Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Nội dung chính

Những loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Theo dạng thân và cách sống của cây, những loài phong lan rừng có thể được xếp thành một vài nhóm dưới đây:

1/ Phong lan đơn thân

Lan đơn thân là các loài lan sống bám trên thân cây hay vách đá, thân phát triển vươn dài theo một trục. Đa số đây chính là các loài lan có nguồn gốc từ vùng núi thấp hay núi cao trung bình, dễ để trồng và dễ ra bông ở bắc bộ. Theo hình thức biểu hiện ra bên ngoài của cây và đòi hỏi về nuôi trồng có thể chia nhóm lan này thành 2 dạng:

1/1/ ​Lan có thân vươn dài và rễ khí:

Thân lan vươn dài, cây lớn. Rễ lớn mọc ra từ nhiều điểm dọc theo chân. Rễ cây có khả năng bám vào những vật cứng ở gần hay buông dài trong không khí. Kỹ thuật trồng các loài lan này thường là buộc vào gỗ treo lên hay buộc thân cây trong sân vườn. Cũng có thể trồng chậu nhưng chậu chỉ có ý nghĩa làm giá đỡ cho cây, còn rễ cần phải được tự do phát triển. Đây chính là nhóm lan rừng dễ để trồng nhất, gồm một vài chi lan đáng kể.

  • Chi Lan Giáng hương (Aerides)

Chi Giáng hương ở Việt Nam có 8 loài, là các loài Phong lan đơn thân được ưa thích bởi có hoa chùm dại, màu sắc tươi và mùi thơm. Do có kích cỡ lớn, những loài Giáng hương thường sử dụng để bài trí sân vườn, nơi có không gian rộng.

Những loài Giáng hương có nguồn gốc từ vùng núi thấp hay núi cao trung bình, đa số dễ để trồng và ra bông tại Hà Nội. Đa phần những loài cần phải được che bóng một phần, trồng ở điều kiện 40-70% ánh sáng trực tiếp. Mùa hè cần phải tưới nhiều nước nhưng không nên để đọng nước ở rễ. Mùa đông dưỡng ẩm vừa phải. Bón phân hằng tháng trong thời điểm mùa sinh trưởng. Trồng đa số là do bám gỗ hay thân cây để bộ rễ phát triển tự do, ngăn ngừa chuyển chậu, thay gỗ vì làm thương tổn nhiều đến rễ.

Chi Giáng hương được sử dụng phổ biến đẻ lai với những chi lan Vanda, lan Nhện, Hồ điệp, Phượng vĩ.

* Lan Giáng mùi thơm (Aerides odorata)

Giáng mùi thơm còn được gọi là Quế lan hương. Cây có thân dài đến 1m, mập. Lá hình dài, dài 15-30 centimét. Cụm hoa dài bằng lá, rủ. hoa xếp dầy, tương đối lớn. Cánh môi cuộn hình ống rộng, có cựa cong ra phía trước khiến cho hoa có hình dạng con ong. Hoa thơm, màu từ trắng tinh đến phớt hồng. Loài lan này gặp cả ở vùng núi đá và núi đất thấp.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Giáng mùi thơm (Aerides odorata)

Cây lớn, nhiều nhánh ở gốc hình thành bụi, khi ra bông làm cây bài trí sân vườn có hiệu quả cao. Hoa nở vào dịp 2/9, tương đối bền. Loài dễ để trồng, cần để chỗ râm mát, khoảng 40-70% ánh sáng trực tiếp. Tưới nhiều và bón phân hằng tháng vào thời kỳ đầu mùa sinh trưởng từ tháng 4 đến tháng 8/ Sau khi cây ra bông, giữ ẩm độ vừa phải, không để cây bị khô, không bón phân cho đến mùa xuân sang năm.

Ngoài giống hay gặp có hoa màu trắng vàng, ở Việt Nam còn có 2 giống:

– Giáng mùi thơm hoa trắng (Ae. Odorarata var alba) có hoa màu trắng tím, cụm hoa thẳng đến hơi rủ, nở tháng 8-9/ Giống ít gặp, có ở trung bộ.

– Giáng hương hồng nhạn (Ae. Odorarata var micholitzii) có hoa màu hồng tím, nở vào tháng 4-5, cụm hoa thẳng, không thơm, thân ngắn, lá xếp dày. cây đặc hữu Tây Nguyên, dễ để trồng ở bắc bộ.

* Lan Giáng hương Quế nâu (Aerdes houlletiana)

Còn được gọi là Tam bảo sắc. Cây có thân dài, mập. Lá hình dải, dài, mảnh hơn Giáng mùi thơm. Cụm hoa rủ, hoa lớn, xếp dầy. Hoa màu vàng cam hay nâu nhạt với phần trên đầu cánh màu tím. Cánh môi chia làm 3 thùy, thùy giữa rộng, mép có răng mịn nhăn nheo, giữa thùy có vạch đậm. Màu sắc hoa có thể thay đổi tùy từng cây từ trắng tím vàng tím. Loài này gặp ở những tỉnh trung bộ và Miền nam, là một các loài lan đặc thù của dãy Trường Sơn. Cây mọc đa phần trên những khu vực núi đất có độ cao thấp.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Giáng hương quế nâu – Aerides houllettiana

Cây lớn có rất nhiều màu sắc, thơm phù hợp cho trồng treo bài trí ngoại thất cực kỳ có hiệu quả. Hoa nở vào tháng 4-5, tương đối bền. Loài dễ để trồng, ưa bóng râm, chịu 40-70% ánh sáng trực tiếp. Giống như Giáng mùi thơm, loài này cần phải tưới nhiều nhưng tránh đọng nước vào mùa sinh trưởng và dưỡng ẩm vừa phải vào mùa đông. Phân bón đa phần vào thời kỳ đầu mùa sinh trưởng, không bón trong thời điểm mùa lạnh.

Loài tương đương thường gặp là Giáng hương Quế (Ae. Falcata), phân biệt là hoa có màu vàng nhạt hơn và hương thơm không bằng Giáng hương Quế nâu.

* Lan Giáng hương nhiều hoa (Aerides multiflora) (còn được gọi là Thạch hoa)

Người chơi lan thường gọi là lan Đuôi cáo. Cây có thân ngắn, mập, lá hình dải, dài. Cụm hoa rủ, hoa nhỏ, xếp dài thành bông, màu trắng có đốm tím ở gốc và đỉnh màu tím. Cánh môi không tạo cựa, chia làm 3 thùy, thùy giữa hình tam giác, màu tím đậm. Màu sắc hoa có thể thay đổi tùy từng cây. Cây mọc không tập trung từ Bắc vào Nam đa phần trên những khu vực đất độ cao thấp.

Loài lan này có thân cây gọn gàng, hoa có màu sắc tươi tắn, phù hợp cho trồng chậu treo bài trí bên cửa sổ, ban công lớn. Hoa nở tháng 5-6, tương đối bền. Cây dễ để trồng, chăm sóc tương đương như Giáng mùi thơm và Giáng hương quế nâu. Tuy vậy loài này khó ra bông hơn và nhạy cảm với nước đọng. Lưu ý để cây chỗ sáng vào mùa đông.

Loài tương đương có thể gặp là Giáng hương Hồng (Ae. Rosea) có người gọi là Đuôi cáo có lá dầy và cuộn, xếp dày trên thân hơn, hoa đậm màu hơn. Loài này gặp không tập trung ở Lai Châu hoặc một vài tỉnh phía Nam.

  • Chi lan Van đa (Vanda)

Chi Van đa ở Việt Nam có 7 loài đã được ghi nhận. Van đa được ưa thích bởi hoa lớn, màu đậm, bền và có mùi thơm. Kích cỡ cây tương đối lớn, thân dài, phù hợp cho bài trí nội thất.

Là các loài xuất xứ từ khu vực đất thấp hay núi cao trung bình nên đa số những loài Van đa đều dễ để trồng và ra bông tại Hà Nội. Những loài Van đa rừng được nuôi trồng ở Việt Nam là các loài có lá dẹt, cần tránh nắng trực tiếp nhưng thích sáng hơn chi Giáng hương. Mùa hè cây cần nhiều nước nhưng tránh đọng nước trên rễ. Cũng như những loài lan đơn thân khác nên hạn chế việc vận chuyển chậu làm động rễ cây. Khi cây phát triển quá lớn, có thể tách cây sang chậu mới. Ngâm cây vào nước cho mềm rễ rồi mới tách để giúp cố gắng không làm thương tổn rễ. Trồng Van đa cần có chỗ dựa cho thân và có chỗ cho rễ phát triển. Rễ Van đa phát triển mạnh và nhiều thì cây mới ra bông tốt. Có thể trồng cây vào chậu treo không có chất trồng. Trong trường hợp này, chậu chỉ làm giá đỡ, còn rễ phát triển buông ngoài không khí.

Van đa là chi lan hay sử dụng để lai với những chi lan Hoàng Yến, Nhện, Phượng vĩ, Giáng hương hay Hồ điệp. Đa số loài Van đa có hoa đẹp, phổ biến trên thị trường không phải là lan rừng.

* Lan Van đa Chanh (Vanda fuscoviridis)

Cây có thân mập, nhiều rễ lớn. Lá hình dải, dài. Cụm hoa dài 10-15 centimét. Hoa lớn, xếp thưa, màu vàng nâu, mép viền vàng chanh. Cánh môi màu vàng chanh, gốc màu trắng. Hay gặp loài lan này ở một vài tỉnh vùng Đông Bắc như Cao Bằng trên núi đá vôi ở độ cao thấp.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Cây có hoa lớn, bền, thơm, phù hợp cho trồng treo, bài trí ngoại thất. Hoa nở tháng 5-6/ Loài dễ để trồng, chịu ánh sáng trung bình, 40-70% ánh sáng trực tiếp.

Loài tương đương thường gặp là Van đa Bắc (V. concolor) có hoa màu nâu, đậm ở mép, nhạt dần vào trong, cánh môi màu nâu nhạt, gốc có sọc hay gặp ở bắc bộ.

  • Lan Chi Ngọc điểm (Rhynchostylis)

Chi Ngọc điểm ở Việt Nam có 3 loài. Những loài của chi này nổi trội với hoa chùm gồm nhiều hoa nhỏ xếp dầy thành bông, màu sắc tươi tắn với mùa thơm nhẹ. Ngọc điểm tuy có kích cỡ lớn nhưng thân không vươn quá dài nên có thể vừa phù hợp cho bài trí sân vườn phù hợp cho trồng treo ở cửa sổ, ban công có diện tích hẹp hơn.

Là các loài có nguồn gốc từ vùng thấp hay núi cao trung bình nên những loài Ngọc điểm dễ để trồng và ra bông tại Hà Nội. Rễ những loài Ngọc điểm lớn, phần nhiều bám vào gỗ hay chất trồng, ít khi buông rủ như rễ Van đa hay Giáng hương. Vậy nên trồng các loài này cần có chỗ bám cho rễ phát triển, thường cây lan được buộc sát vào gỗ hay thân cây cho rễ bò dọc theo gỗ. Hạn chế việc thay chậu, thay chỗ trồng vì sẽ làm thương tổn nhiều đến rễ đã bám vào chất trồng.

Những loài Ngọc điểm thích sáng nhưng cần tránh nắng trực tiếp. Mùa hè cần phải tưới nước nhiều nhưng không nên để nước đọng ở rễ. Mùa đông dưỡng ẩm vừa phải, để cây chỗ sáng.

* Lan Ngọc điểm Đai châu (Rhynchostylis gigantea)

Còn được gọi là Ngọc điểm Nghinh xuân (Tai trâu). Cây có thân mập, không cao, có rất nhiều rễ lớn. Lá dầy màu xanh nổi cách vạch trắng dọc. Cụm hoa bông lớn, cong xuống, dài 20-30 centimét. Hoa xếp dầy. Cánh dầy màu trắng có rất nhiều đốm tím. Cánh môi trắng có vạch tím, đỉnh chia 3 thùy nhỏ. Đai châu có phân bổ rộng ở nhiều vùng như Bắc Miền trung, Tây Nguyên. Cây thông hay gặp trên núi đất ở độ cao thấp đến cao trung bình.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Ngọc điểm Đai châu (Rhynchostylis gigantea)

Đai châu là một loài cây lan phổ biến được ưa thích do có hoa chùm đẹp, nở vào đầu mùa xuân tháng 1-2 đúng đợt tết, dễ để trồng, thích sáng 50-70% ánh sáng. Mùa sinh trưởng (tháng 3-8) có thể bón phân hàng tuần bằng phân cân bằng (N-P-K) cho lá phát triển. Bón bằng phân giầu lân vào trước giai đoạn cây ra bông (tháng 9-11). Không nên bón khi thời tiết lạnh quá. Một vài người sử dụng phân hữu cơ như nước ốc, nước giải pha loãng để bón cho Đai châu, tuy có công dụng nhưng hạn chế dùng các loại phân này vì dễ gây sâu hại, thối lá và làm bẩn môi trường trồng lan. Màu sắc hoa Đai châu thay đổi từ màu trắng, trắng đỏ cho tới màu đỏ tía. Một số loại giống Đai châu hoa đỏ là giống nhập từ Thái Lan và giống Trắng đỏ là giống lai.

* Lan Ngọc điểm Hải âu (Rhynchostylis coellestis)

Loài cây này có thân ngắn và lá nhỏ hơn. Cụm hoa đứng, dài 10-15 centimét. Hoa lớn, xếp dầy, màu trắng với đốm lớn màu lam ở đỉnh. Cánh môi màu lam, gốc trắng, hoa thơm. Cây mọc trên núi đất ở độ cao trung bình ở những tỉnh nam bộ và Tây Nguyên.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Ngọc điểm Hải âu (Rhynchostylis coellestis)​

Do có cụm hoa đứng, màu lam tươi cực kỳ đẹp nên Hải âu là một loài có giá trị bài trí cao. Cây ra bông tháng 5-6, hoa nở phía trong khoảng 1 tuần. Loài tương đối dễ để trồng, thích sáng, ưa chỗ thông thoáng.

Loài đáng kể khác: Ngọc điểm Đuôi sóc (Rh.retuasa) có hoa màu trắng đốm tím cực kỳ đẹp. gặp không tập trung ở bắc bộ và Bắc Miền trung, tương đối khó trồng và khó ra bông nên không phổ biến.

  • Chi Lan Cẩm báo (Hygrochlus)

Chi này chỉ một loài độc nhất là Cẩm báo (Hygrochilus parishii).

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Cây có thân dầy ngắn, lá hình trái xoan. Cụm hoa dài hơn lá, ít hoa, hoa lớn. Cuống chung mập thẳng hay gẫy khúc. Cánh hoa màu vàng xanh có đốm, vệt đỏ nâu. Cánh môi nhỏ, thùy bên gặp đa phần ở những tỉnh phía Nam và dãy Hoàng Liên Sơn ở độ cao thấp đến trung bình.

Cây có hoa lớn, nở tháng 4-5 rất bền bỉ. Cây dễ để trồng, thích sáng. Kỹ thuật trồng và chăm bón tương đương những loài Ngọc điểm.

Chủng Cẩm báo nhung (H. parishii var mariottiana) có cánh hoa đồng màu, màu tím hồng gặp ở Tây Nguyên.

  • Chi Lan Phượng vĩ (Renanthera)

Chi lan phượng vĩ ở Việt Nam có 5 loài, là những loài phượng lan đơn thân có thân vươn dài, lá ngắn, dầy, xếp thưa trên thân. Hoa chùm lớn, màu đỏ và vàng, rạng rỡ.

Những loài Phượng vĩ xuất xứ từ vùng núi thấp hay cao trung bình, đa số là những loài dễ để trồng và ra bông tại Hà Nội. Cây trồng trong chậu treo hay bám gỗ cho phát triển. Những loài Phượng vĩ cực kỳ thích sáng, có thể trồng không cần che nắng ở các chỗ không quá nắng. Do trồng chỗ sáng nên cây cần phải tưới nước nhiều vào mùa hè. Mùa đông giữ nhiệt vừa phải. Bón phân cho cây hằng tháng trong thời điểm mùa sinh trưởng. Đầu mùa tháng 6-8 bón một số loại phân giầu đạm (30:10:10), bón phân cân bằng vào tháng 9-11/ Trong thời điểm mùa lạnh hạn chế bón phân hoặc bón một số loại phân giầu lân và kali (6:30:3). Hạn chế chuyển chậy hay chỗ trồng vì rễ cây bám vào chất trồng tương đương như rễ Ngọc điểm. Các cây lan sau khi chuyển chậu cực kỳ lâu ra rễ và khôi phục.

* Lan Phượng vĩ Bắc (Renanthera cocinea)

Còn được gọi là Huyết nhung. Cây có thân leo cao tới 10m. Rễ nhiều, lớn, hỗ trợ cây leo bám cao. Lá dày, ngắn, hẹp. Cụm hoa lớn dài tới 60 centimét, có 4-5 nhánh, mỗi nhánh có 10-15 bông, trải rộng gần giống hình tam giác phẳng. Hoa lớn, màu đỏ. Cánh môi màu đỏ đậm, thùy bên màu vàng có vạch dọc. Loài lan này rất thịnh hành, có ở đa số những khu vực trong cả nước. Cây mọc ở độ cao thấp và trung bình.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Phượng vĩ Bắc (Renanthera cocinea)

Cây cao khoảng 1,7m mới bước đầu ra hoa. Các cây bán ở thị trường thường là các đoạn thân ngắn được cắt từ cây lớn khi đã có hoa. Hoa nở tháng 4-5, rất bền bỉ, nối dài 4-5 tuần. Loài lan này dễ để trồng, ít sâu hại, hoa có màu đẹp nhưng không thơm, kích cỡ cây quá dài nên giá trị làm cảnh cao, thường sử dụng cho leo bám những cây trong sân vườn. Hội sinh vật cảnh Buôn Mê Thuật đã lai tạo loài Phượng vĩ với lan Van đa Dạ hương cho cây lai có hoa màu sắc đẹp, lại thơm.

* Hai loài Lan Phượng vĩ Trung (R. annamensis) và Lan Phượng vĩ Nam (R. imschootiana) phân biệt với Phượng vĩ Bắc ở cánh hoa có màu vàng lẫn đỏ, thân không leo dài.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Phượng vĩ Trung (R. annamensis)

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Phượng vĩ Nam (R. imschootiana)

  • Chi Lan Hoàng yến (Ascocentrum)

Chi lan Hoàng yến ở Việt Nam có 3 loài, thường có thân ngắn, lá dầy. Hoa chùm đứng, nhiều hoa xếp sát, nổi trội với màu sắc cực kỳ tươi tắn.

Có nguồn gốc từ vùng núi thấp hay cao trung bình nên đa số những loài Hoàng yến dễ để trồng và ra bông tại Hà Nội. Cây có kích cỡ nhỏ, đa phần phù hợp cho bài trí bên cửa sổ, ban công.

Lan Hoàng yến thường sử dụng lai với những chi lan Van đa, Hồ Điệp, Giáng hương.

* Lan Hoàng yến cam (Ascocentrum garayi = A. miniatum)

Hoàng yến cam còn được gọi là Hòa hoàng. Cây có thân ngắn, mập, lá dầy, cứng. Cụm hoa đứng mọc từ nách lá ở đỉnh, dài trên 10 centimét. hoa nhỏ, xếp dài, màu vàng cam bóng, tươi. Hỏa hoàng gặp đa phần ở phía Nam như trung bộ và Miền nam, Tây Nguyên trên núi đất ở độ cao thấp.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Hoàng yến cam (Ascocentrum garayi = A. miniatum)

Hoa Hỏa hoàng nở tháng 4-5, bền trong vài tuần. Là một loài dễ để trồng, hoa sắc màu rạng rỡ, kích cỡ cây gọn gàng nên Hỏa hoàng có thể coi là lan rừng có giá trị kinh tế cao. Rễ Hỏa hoàng nhỏ, nhiều, vừa bám gỗ vừa buông ra ngoài không khí. Cây trồng trong chậu treo nhỏ hay cho bám gỗ. Hỏa hoàng thích sáng, khoảng 50-70% ánh sáng trực tiếp. Cây ưa chịu ẩm, cần phải tưới nhiều nước, nhất là trong thời điểm mùa hè. Sau khi cây ra bông, có thể bón phân hằng tháng.

1/2/ Lan có thân ngắn, rễ chùm

Đây chính là các loài lan đơn thân nhưng thân cực kỳ ngắn, rễ mọc thành chùm ở gốc cây. Vì vậy các loài lan này cần trồng trong chậu để giá thể bao bọc kín rễ hoặc nếu khi trồng bám gỗ cần lưu ý dưỡng ẩm cho rễ bằng phương pháp buộc thêm xơ dừa, rêu quanh rễ. Đa số những loài lan này đều ưa bóng nên đây chính là các loài lan đáng kể, phù hợp cho môi trường nội thất hay không gian hẹp.

  • Lan Tóc tiên Bắc (Holcoglossum lingulatum)

Cây có thân ngắn, lá dạng hình trụ nhọn. Cụm hoa đứng, hoa lớn, mà trắng, cánh môi có thùy giữa màu đỏ tím, có vạch đậm, hoa thơm. Loài tóc tiên đặc hữu gặp trên núi đá đất vùng cao ở Sơn La, Lai Châu.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Tóc tiên Bắc phát triển tốt trong hoàn cảnh nuôi trồng tại Hà Nội. Rễ Tóc tiên Bắc mập, dầy, bám dọc theo chất trồng. Vì vậy thường cho cây bám gỗ nhưng cấp thiết lót thêm xơ dừa hay rêu để dưỡng ẩm cho rễ. Để cây ở chỗ râm, mát, tưới nước nhiều cả năm. Hoa nở thường vào dịp năm mới, nối dài trong 2 tuần. Loài này là một loài lan đẹp và quý nhất trong chi Tóc tiên, có tiềm năng làm cảnh cao tại Hà Nội và bắc bộ.

  • Chi Lan Hồ điệp (Phalaenopsis)

Những loài lan Hồ điệp rừng khác với những giống lan lai là thân thường nhỏ, hoa nhỏ, cụm hoa ngắn. Lá Hồ điệp dầy, hình bầu dục. Hồ điệp được ưa thích bởi thân gọn gàng, hoa bền và tinh tế. Tuy vậy đa số những giống Hồ điệp không có mùi thơm.

Những loài Hồ điệp rừng có nguồn gốc từ vùng thấp hay cao trung bình, đa số là những loài dễ để trồng và ra bông tại Hà Nội. Tương như Hồ điệp lai cây được canh tác trong chậu với xơ dừa hay rêu. Sau vài năm trồng, khi cây lớn cần thay chậu lớn hơn.

Hồ điệp là các loài lan ưa bóng râm, khoảng 30-40% ánh sáng trực tiếp. Tưới nước nhiều vào mùa hè nhưng tránh nước đọng ở rễ và nhất là lá vì lá dầy mềm, dễ thối và thương tổn. Nên tưới cây vào buổi sáng để giúp tránh đọng nước vào ban đêm, dễ thối lá. Mùa đông tưới vừa đủ, không để cây khô. Hồ điệp rừng không cần bón nhiều phân như Hồ điệp lai. Bón phân nhiều đạm (30:10:10) hằng tháng trong thời điểm mùa sinh trưởng là đủ. Muốn thúc hoa, bón phân nhiều lân (10:30:10) nhưng đừng nên quá lạm dụng vì hoa chỉ ra có mùa, khác với Hồ điệp lai.

* Lan Hồ điệp Ẩn (Phalaenopsis mannii)

Loài lan này có cụm hoa ngắn. Hoa lớn, có 4-6 chiếc, xếp không quá thưa. Cánh hoa màu vàng nghệ, có vệt nhăn nheo màu nâu. Cánh môi màu vàng hay trắng nhạt. Loài này gặp không tập trung ở một vài tỉnh phía Bắc và trung bộ ở độ cao thấp tới trung bình.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Hồ điệp Ẩn (Phalaenopsis mannii)

Hoa Hồ điệp Ẩn nở tháng 4, nối dài trong vài tuần. do có thân và hoa đẹp, dễ để trồng nên đây chính là một loài lan có triển vọng làm cảnh cao, phù hợp trồng ở ban công, cửa sổ râm mát, không chiếm nhiều diện tích.

2/ Phong lan đa thân

Những loài lan đa thân có trục phát triển theo chiều ngang, ở trên đó nảy những chồi hình thành nhiều thân gọi là giả hành hay củ giả. Để làm cảnh, nên chọn những loài của chi Hoàng thảo có những giả hành mọc tập trung, gọn, hoa lớn và nhiều màu sắc. Các chi lan khác ít khi được nuôi trồng ở bắc bộ do hoa có thể đẹp nhưng thân lòng thòng, lá mềm xấu, không đẹp.

  • Chi Lan Hoàng thảo (Dendrobium)

Hoàng thảo là một chi lan lớn nhất trong họ lan. Số lượng những loài Hoàng thảo ở Việt Nam được ghi nhận là 107 loài. Gần đây, đa số loài Hoàng thảo mới được tìm thấy và miêu tả. Những loài Hoàng thảo có mặt ở toàn bộ những khu vực sinh thái trong cả nước. Các loài Hoàng thảo dễ để trồng đa số là từ những khu vực núi thấp hay núi cao trung bình.

Hoàng thảo là các loài lan sống bám trên cây hay đá, mọc thành bụi nhiều hành giả. Những giả hành có thể phân thành những đốt như cây tre. Đa số loài có rãnh dọc theo giả hành.

Rễ Hoàng thảo nhỏ, tập trung ở gốc vậy nên cần dưỡng ẩm cho rễ. Đa phần Hoàng thảo được treo trong chậu treo, sử dụng than lót đáy chậu và buộc giữ gốc cây, sử dụng xơ dừa hay rêu phủ rễ. Nếu buộc lên gỗ hay lên thân cây thì cần sử dụng chất trồng dưỡng ẩm tốt bó quanh rễ và tưới nước nhiều hơn.

Những loài Hoàng thảo không ưa tách bụi, chuyển chậu. Tuy vậy sau khi tiến hành trồng 2-3 năm cây ra nhiều giả hành, rễ phát triển chật chậu, cần tách bụi hay đánh chuyển sang chậu lớn hơn. Thông thường thời gian tách bụi tối ưu nhất là vào thời kỳ đầu mùa xuân khi cây bước đầu ra rễ mới. Cũng có thể tách vào mùa thu trước khi cây bước vào giai đoạn nghỉ. Lưu ý không cắt bỏ các giả hành cũ, đã rụng lá vì đa số loài Hoàng thảo có thể ra bông trong nhiều năm trên một giả hành đã rụng lá.

Đa số loài Hoàng thảo cần có giai đoạn nghỉ khô và và lạnh mới ra bông. Nhất là những loài rụng lá theo mùa, ra bông trên thân giả rụng lá của năm trước. Trong giai đoạn nghỉ, cần phải tưới nước cực kỳ hạn chế, chỉ đủ để cây không bị khô. Không bón phân trong thời điểm mùa này. Tưới nước trở lại khi nhìn thấy xuất hiện búp hoa. Loài không rụng lá không có mùa nghỉ rõ ràng, cần dưỡng ẩm hơn vào mùa đông.

Những loài Hoàng thảo thường thích sáng, khoảng 50-70% ánh sáng trực tiếp là phù hợp. Nơi trồng thoáng đãng không khí hỗ trợ cây phát triển tốt vào mùa sinh trưởng.

Do có kích cỡ vừa phải, hoa đẹp nên Hoàng thảo là một loài lan có giá trị bài trí cao, thường phù hợp cho không gian tương đối hẹp. Một vài loài Hoàng thảo lớn có thể sủ dụng cho bài trí sân vườn. Chi lan Hoàng thảo được sử dụng phổ biến để lai tạo làm cây cảnh hay cắt hoa cắt cành.

Để thuận lợi cho việc nhận biết và nuôi trồng, có thể chia chi lan Hoàng thảo thành những tông (nhóm).

  • Nhóm Lan Hoàng thảo (Dendrobium)

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Lan Hoàng thảo Dendrobium

Đặc tính của những loài thuộc tông này là loại cây có giả hành dài, lá phát triển trên tất cả giả hành. Hoa lớn, cánh môi phẳng. Cụm hoa ít hoa, phát triển tất cả chiều dài giả hành, cuống cụm hoa vuông góc với trục giả hành. Đây chính là các loài có nguồn gốc từ vùng thấp hay núi cao trung bình nên tương đối dễ để trồng. Cần lưu ý che bớt nắng vào mùa hè, để sáng vào mùa đông. Mùa hè tưới nhiều nước. Hầu hết không bón tưới vào mùa đông, nhất là với những loài rụng lá.

* Lan Hoàng thảo dẹt (Dendrobium nobile)

Hoàng thảo dẹt còn được gọi là Cẳng gà hay Thạch lộc. Cây có giả hành dẹt, lớn dần ở đỉnh màu vàng óng. Lá thuôn hình dải. Cụm hoa ngắn 1-3 hoa lớn phát triển trên những thân rụng lá. Hoa màu tím hay pha hồng. Cánh môi hoa có đốm lớn màu đỏ đậm, hoa thơm. Loài này gặp nhiều ở cả bắc bộ và nam bộ ở độ cao thấp tới trung bình.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Hoàng thảo dẹt (Dendrobium nobile)

Cây có hoa lớn, đẹp, tương đối bền, nối dài trong 3-4 tuần. Hoa nở vào đầu mùa xuân tháng 3-4/ Kích cỡ cây vừa phải, phù hợp cho bài trí ban công, cửa sổ, sân vườn nhỏ. Loài này được sử dụng phổ biến để lai làm cây cảnh.

Loài dễ để trồng, thích sáng khoảng 50-70%. Tưới nhiều vào mùa hè. Bón phân hằng tháng. Khi lá bắt đầu chuyển sang màu vàng thì hạ dần tưới nước tới ngừng hẳn vào mùa đông, để cây nghỉ đông ở chỗ sáng. Tưới lại khi rễ mới và búp hoa chớm xuất hiện.

Chủng hoa trắng (D. nobile var alboluteum) có hoa màu trắng tinh, có đốm vàng ở giữa. Loài được tìm ra ở Gia Lai và có thể gặp không tập trung ở các khu vực khác.

* Lan Hoàng thảo long nhãn (Dendrobium fimbriatum)

Cây mọc thành bụi với giả hành cao đến 2m. Lá hình giáo. Cụm hoa trên thân có lá, tương đối dài và nhiều hoa. Hoa lớn 8-15 chiếc, màu vàng nghệ. Cánh môi có đốm lớn màu đỏ đậm ở giữa, mép có lông chia nhánh. Hoa thơm. Loài gặp phổ biến ở nhiều nơi cả phía Bắc và phía Nam ở những độ cao khác nhau.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Hoàng thảo long nhãn (Dendrobium fimbriatum)

Cây có hoa đẹp nở rộ vào tháng 5, bền 3-4 tuần. Kích cỡ cây tương đối lớn nên sử dụng cho không gian rộng ngoài sân vườn. Loài dễ để trồng, thích sáng 50-70%. Chăm bón cây tương đương như Hoàng thảo dẹt.

Loài Hoàng thảo vàng cam hay Kim thoa (D. chryseum) cũng thường gặp và cực kỳ giống loài trên, nhiều khi gọi cùng tên. Phân biệt là thân ngắn hơn, lòng cánh môi không phân nhánh như loài Hoàng thảo long nhãn, ít hơm hơn.

* Lan Hoàng thảo giả hạc (Dendrobium anosmum = D. superbum)

Hoàng thảo giả hạc còn được gọi là Phi điệp. Cây có giả hành hình trụ, buông dài đến 1-2m. Hoa đơn độc trên những đốt già rụng lá, lớn. Cánh hoa màu hồng tím. Cánh môi có đốm lớn màu tím đậm. Cây gặp phổ biến nhiều nơi ở cả bắc bộ và Tây Nguyên trên núi đất ở những độ cao thấp hay cao trung bình.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Hoàng thảo giả hạc (Dendrobium anosmum = D. superbum)

Cây cho hoa lớn, màu đẹp, phù hợp trồng ở những chậu treo lớn. Hoa nở tháng 4-5, nối dài trong 1 tuần. Loài tương đối dễ để trồng, thích sáng 40-60%. Tưới nước và bón phân như những loài lan Hoàng thảo rụng lá khác.

Loài Hoàng thảo tím hồng (D.parishii) có hoa màu sắc tương đương, phân biệt là thân mọc thẳng hơn, hoa đậm màu hơn, cánh hoa trong có răng cưa nhỏ, hoa cực kỳ thơm. Loài này ặp không tập trung từ Bắc vào Nam.

* Lan Hoàng thảo tua (Dendrobium harveyanum)

Cây có giả hành ngắn, mập, thuôn nhỏ dần ở gốc. Cụm hoa tương đối dài và nhiều hoa. Hoa lớn, màu vàng tươi. Cánh môi xòe rộng màu vàng cam, mép có tua nhỏ đều. Mép cánh trắng có tua lông dài. Loài này gặp ở Tây Nguyên trên núi đất ở độ cao trung bình.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Hoàng thảo tua (Dendrobium harveyanum)

Cây có hoa chùm đẹp, nở rộ vào tháng 2-3, nối dài 5-10 ngày. Cực kỳ phù hợp trồng trong những chậu treo nhỏ. Loài tương đối dễ để trồng, thích sáng 50-70%. Cây rụng lá, mùa nghỉ và chăm sóc như các loài Hoàng thảo khác cùng nhóm.

Loài đáng kể khác:

– Hoàng thảo đơn cam (D. unicum) có hoa lớn trên thân ngắn màu cam đậm, gặp ở Tây Nguyên. Hoa cực kỳ đẹp nhưng ít thấy ở Hà Nội và tương đối khó trồng.

– Hoàng thảo hoa vàng hay Phi điệp vàng (D. chrysanthum) có hoa vàng chấm nâu trên thân có lá. Cây có hương thơm cơm nếp. Hoa nở mùa thu, thường đúng 2/9/ Cây thông hay gặp ở bắc bộ vào mùa hoa.

– Hoàng thảo tam bảo sắc (D. devonianum) có hoa nở đều dọc trên thân, cánh hoa màu trắng có đỉnh hồng, cánh môi có họng vàng cam. Loài gặp không tập trung ở Tây Bắc và Tây Nguyên.

– Hoàng thảo u lồi (D. Pundulum) có những đốt thân phình lên ở đỉnh, hoa nở đều dọc trên thân, cánh hoa màu trắng có đỉnh hồng, cánh môi có đốm màu vàng. Loài gặp ở bắc bộ nhưng tương đối khó trồng và không đẹp khi không có hoa.

* Nhóm Lan Kiều (Chrysotxae)

Những loài thuộc tông này đặc thù bởi những giả hành ngắn, mập. Lá tập trung ở ngọn, bẹ lá cực kỳ ngắn, không rụng lá vào mùa đông. Hoa ở gần đỉnh, chùm dài, nhiều hoa lớn.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Những loài Kiều hoàng thảo có nguồn gốc từ vùng thấp hay cao trung bình, tương đối dễ để trồng. Đây chính là các loai thích sáng trung bình, cần phải tưới nước vừa phải vào mùa hè. Mùa đông tưới đủ dưỡng ẩm và để cho chất trồng có thời gian khô giữa những đợt tưới nước. Bón phân hằng tháng vào mùa cây bắt đầu nhú nụ tới đầu mùa rét.

* Lan Hoàng thảo vảy rồng (Dendrobium lindleyi)

Cây có giả hành cực kỳ ngắn 3-10 centimét, củ giả áp sát vào giá thể. Ở trên đỉnh giả hành chỉ mang 1 lá. Cụm hoa tương đối dài và nhiều hoa. Hoa lớn, màu vàng tươi. Cánh môi màu vàng có đốm vàng đậm, mép nhăn nheo, phân bổ rộng từ Bắc vào Nam ở những độ cao thấp và trung bình.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Hoàng thảo vảy rồng (Dendrobium lindleyi)

Cây có hoa chùm đẹp, nở rộ trong khoảng thời gian ngắn vào tháng 5/ Do đặc tính giả hành mọc sát chất trồng nên thường lan Vảy rồng được gắn vào những khúc dớn hay gỗ có diện rộng và dưỡng ẩm tốt. Loài dễ để trồng, thích sáng 40-70%. Tưới nhiều vào mùa hè. Cần có mùa nghỉ 2-3 tháng lạnh, ít tưới và để chỗ sáng cho ra nhiều hoa.

* Lan Hoàng thảo duyên dáng (Dendrobium amabile)

Hoàng thảo duyên dáng còn được gọi là Kiều tím. Giả hành cao tới 40 centimét, có rãnh dọc, màu nâu đen. Cụm hoa buông xuống, dài 30 centimét và nhiều hoa. Hoa lớn, xếp thưa màu hồng nhạt. Cánh môi có đốm màu vàng cam, mép có lông. Loài đặc hữu trung bộ, cũng có thể gặp ở bắc bộ ở độ cao thấp.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

​Hoàng thảo duyên dáng (Dendrobium amabile)

Loài này có hoa chùm đẹp, nở rộ vào tháng 5-6, hoa bền 5-10 ngày. Cây phù hợp cho trồng bài trí ngoài sân vườn. Loài dễ để trồng thích sáng 50-70%. Có thể trồng trong chậu có lót thân và phủ rễ bằng chất trồng mềm như xơ dừa, rêu hoặc buộc vào khúc dớn, thân cây dương xỉ. Chăm bón cây như những loài Kiều khác.

* Lan Hoàng thảo thủy tiên vàng (Dendrobium palpebrae)

Loài này còn được gọi là Hoàng lạp hay Hoàng thảo mỡ gà. Cây có giả hành ngắn, 30-50 centimét, có rãnh, màu vàng, phình ở giữa. Hoa màu vàng tươi, bóng. Cánh môi có đốm màu vàng đậm, mép có lông mịn. cây mọc đa phần ở một vài trung bộ và Miền nam trên núi đất ở độ dốc cao thấp hoặc trung bình.

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Hoàng thảo thủy tiên vàng (Dendrobium palpebrae)

Cây có thân gọn gàng, hoa tươi màu, được coi là một trong các loài Lan hoàng thảo có giá trị làm cảnh thất. Kỹ thuật chăm sóc như những loài lan Kiều khác.

Loài tương đương là Kiều vàng (D. thysiflorum) có thân dài hơn, ít mập và phình hơn. Hoa không bóng như Thủy tiên vàng, có bán nhiều ở Hà Nội vào mùa hoa.

* Lan Hoàng thảo thủy tiên (Dendrobium palpebrae)

Loài này còn được gọi là Kiều trắng. Cây có giả hành ngắn 30 centimét, màu xanh, 4 cạnh. Cụm hoa buông xuống, dài trên 20 centimét và nhiều hoa. Hoa lớn, xếp thưa, màu trắng. Cánh môi gần vuông, họng màu vàng đậm, mép có lông. Hoa thơm. Loài mọc đa phần ở Tây Nguyên và Miền nam trên núi đất ở những độ cao khác nhau.

Loài này có hoa chùm đẹp, nở rộ vào tháng 4-5, hoa nở nối dài 5-10 ngày, phù hợp trồng chậu treo nhỏ để bài trí cửa sổ, ban công. Nhu cầu ánh sáng và chăm sóc tương đương như những loài Lan Kiều khác.

* Lan Hoàng thảo thất điểm hồng (Dendrobium draconis)

Các loài phong lan rừng phổ biến ở Việt Nam

Hoàng thảo thất điểm hồng (Dendrobium draconis)

Loài này có giả hành cao 2-40 centimét, chia đốt, khía dọc, lá có bẹ. Cụm hoa gần đỉnh 2-5 hoa. Hoa lớn màu trắng, cánh môi có sọc đỏ cam, hoa thơm. Loài gặp ở nam bộ trên núi đất ở độ cao trung bình đến cao. Loài lan này tương đối khó trồng. Cây thích sáng 40-70%, yêu cầu tưới nước liên tục. Cây mọc thành bụi có thể trồng trong chậu lót than và phủ chất trồng mềm và dưỡng ẩm tốt như có xơ dừa, rêu lên rễ. Hoa nở tháng 3-4 bền trong 3-5 tuần.

Những loài đáng kể khác:

– Hoàng thảo hỏa hoàng (D. bellatulum) có giả hành ngắn chia 3 đốt, hoa màu trắng, cánh môi màu đỏ cam. Loài gặp ở Tây Nguyên, đôi khi có bán tại Hà Nội.

– Hoàng thảo xương rồng (D. carniferum) có hoa màu trắng vàng, đỉnh có đốm vàng, họng đỏ. Loài gặp ở Lâm Đồng, Tây Bắc nên vào mùa hoa có thấy bán ở Hà Nội.

– Hoàng thảo tam giác (D. trigonopus) hoa màu vàng tươi, họng xanh, cánh hoa hình tam giác.

Những nhóm khác

Các loài trong những tông khác thường là hoa nhỏ, thân xấu hoặc khó trồng nên không phổ biến. một vài loài đẹp, cần tìm hiểu kỹ thuật nuôi trồng là:

– Hoàng thảo báo hỷ (Dendrobium secundum) có giả hành mập, có khía rãnh, hơi thuôn ở giữa, lá mềm. Cụm hoa cứng mọc nghiêng ở đỉnh. Nhiều hoa nhỏ xếp sát về một phía. Hoa màu hồng pha tím. Loài phân bổ ở nam bộ nhưng tương đối dễ để trồng ở Hà Nội.

– Hoàng thảo Tuấn Anh (D. trantuanni) mới được tìm thấy ở núi Hoàng Liên Sơn (mang tên một người sưu tầm lan trong chi hội Lan Hà Nội). Cây có giả hành dẹt, ngắn, mập, có rãnh nông, thuôn nhỏ ở gốc. Hoa thường mọc đều trên thân, màu trắng hồng, họng nâu đậm, rất bền bỉ.

– Hoàng thảo môi tua (D. brymerianum) có giả hành màu vàng phình ở gốc, thuôn nhỏ ở đỉnh. Cụm hoa ngắn, hoa màu vàng tươi, cánh môi có lông tua dài. Loài mọc ở Lai Châu, Lào Cai, có bán ở Hà Nội vào mùa hoa.

Nguồn: Giáo trình Hoa Lan – Đại học Thái Nguyên (Trường Đại học Nông Lâm)

– Cây trồng liên quan: Hoa Lan

– Tham khảo thêm chủ đề: cây lan, hoa lan, những loài lan, một số loại phong lan rừng, những loài lan rừng, lan rừng, lan rừng phổ biến ở Việt Nam, giống lan phổ biến ở việt nam

Ngoài ra, trong bài viết này, chúng tôi có đề cập đến 1 số loại dinh dưỡng và sâu bệnh, quý bà con có thể dụng các loại thuốc sau để điều trị cho cây trồng:

– Giúp null PHÂN HỮU CƠ: agrimartin super organic,

– Giúp trị bệnh RỤNG LÁ: atonik 1.8sl,

– Giúp trị bệnh THỐI LÁ: mocabi,

Nhấp vào nút Mua Nhanh bên dưới để đặt mua qua chúng tôi.

LIÊN HỆ MUA HÀNG : 0982.427.033