Nông nghiệp hữu cơ: Hiện trạng và giải pháp nghiên cứu – phát triển (phần 1)

Nông nghiệp hữu cơ: Hiện trạng và biện pháp nghiên cứu – phát triển (P1)

Nguyễn Văn Bộ, Giám đốc Viện KH Nông nghiệp Việt Nam,

Ngô Doãn Đảm, Phó Viện trưởng Viện Cây Lương thực và Thực phẩm

Nông nghiệp hữu cơ: Hiện trạng và giải pháp nghiên cứu - phát triển (phần 1)

PGS.TS.Nguyễn Văn Bộ – Giám đốc Viện KH Nông nghiệp Việt Nam

| PHẦN I | PHẦN 2 | PHẦN 3 | PHẦN 4|

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống trồng trọt đã tạo ra sự lưu ý ngày càng tăng ở nhiều quốc gia trong 2 thập kỷ qua, nhất là những nước phát triển, khi mà sức ép về lương thực hạ đi, song sức ép về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng nông sản và môi trường lại được tăng lên. Nhiều nước ở châu Âu, Bắc Mỹ, châu Đại dương đã khuyến khích nông dân ứng dụng nông nghiệp hữu cơ. Tuy vậy ở nhiều quốc gia khác, nông nghiệp hữu cơ là câu chuyện còn cực kỳ mới lạ, định nghĩa về loại hình trồng trọt này được hiểu cực kỳ khác nhau. Với Việt Nam việc này cũng không là ngoại lệ. Hiện tại có cực kỳ nhiều khái niệm khác nhau về nông nghiệp hữu cơ. Đa phần những nhà khoa học đều hiểu nông nghiệp hữu cơ là một nền nông nghiệp không dùng hóa chất, những nguồn hữu cơ được tái dùng 1 cách triệt để. Theo định nghĩa này, trong toàn bộ quá trình sản xuất chỉ được phép sửdụng phân bón hữu cơ, làm cỏ thủ công hoặc cơ giới và ngăn ngừa, diệt trừ sâu hại bằng giải pháp sinh học. Gần đây, nông nghiệp hữu cơ còn không đồng ý việc gieo trồng những cây đã thay đổi gene. 

Tuy vậy, bản chất của bất cứ một nền sản xuất nào cũng phải gắn với năng suất, chất lượng của sản phẩm cuối cùng và tính vững chắc của môi trường. Cùng với sự phát triển của khoa học, khi mà kiến thức con người đã dần chi phối được những qui luật của tự nhiên thì định nghĩa hữu cơ cũng được hiểu theo nghĩa rộng hơn, tổng hợp hơn. Xem xét bản chất của quá trình dùng dinh dưỡng của cây trồng chúng ta nhận ra rằng, dưỡng chất dù dùng ở bất cứ dạng nào, hữu cơhay vô cơ thì chúng đều phải trải qua 1 quá trình chuyển hóa về dạng ion (anion hoặc cation) trước khi được cây trồng hấp phụ. Thêm nữa, chất lượng nông sản không hoàn toàn dựa vào dạng phân bón dùng mà lại dựa vào liều lượng, chủng loại, tỉ lệ, biện pháp và giai đoạn bón cho cây trồng. Với thuốc bvtv (thuốc bảo vệ thực vật) là chế phẩm không hoặc ít độc hại, thời gian phân hủy ngắn… và phải bảo đảm thời gian cách ly. Như vậy, sản phẩm sạch phục vụ đòi hỏi về vệ sinh an toàn thực phẩm không hoàn toàn không chứa những nhân tố độc hại mà là sản phẩm có hàm lượng những chất độc hại dưới ngưỡng được sự cho phép theo đúng tiêu chuẩn quốc gia hay quốc tế. 

Xuất phát từ các nguyên do trên, theo chúng tôi, nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất cho phép khai thác tốt nhất những nguồn tài nguyên như đất, năng lượng, những dưỡng chất, những quá trình sinh học diễn ra trong tự nhiên với một biện pháp quản lý hợp lý nhất nhằm mục đích sinh ra sản phẩm phục vụ đòi hỏi về vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời cũng bảo đảm cho hệ thống sản xuất một cách bền vững về môi trường, xã hội và kinh tế. Theo khái niệm này thì nông nghiệp hữu cơcòn có thể hiểu là nông nghiệp sinh thái. Như vậy, thuật ngữ“hữu cơ” không những đề cập đến dạng dinh dưỡng cung ứng cho cây trồng mà được mở rộng ra như là một quan điểm, trong đó tính vững chắc là hạt nhân. 

Theo Dumanski, nhà thổ nhưỡng học thì “sự vững chắc giữ lại cho những thế hệ tương lai ít nhất là các thời cơ như chúng ta đang có”. Đây chính là quan điểm cực kỳ thực tiễn, bảo đảm tổng tài sản ở 4 dạng (tài sản thiên nhiên, tài sản do con người làm ra, bản thân con người và xã hội) luôn được bảo toàn trong toàn bộ sự hình thành và phát triển. Thật tiếc, chúng ta đã và đang khai thác triệt để tài nguyên, gần như không cớ thời cơ cho thế hệ sau. 

Còn theo N.H. Lampkin (1994) thì: “Trồng trọt hữu cơ là một biện pháp tiếp cận với nông nghiệp nhằm mục tiêu tạo lập hệ thống sản xuất nông nghiệp tổng hợp, vững chắc về môi trường, kinh tế và nhân văn; cho phép khai thác nhiều nhất nguồn tài nguyên có thể tái tạo được cũng như quản lý những quá trình sinh thái cùng với sự ảnh hưởng qua lại của chúng để có thể bảo đảm năng suất cây trồng, vật nuôi và dinh dưỡng cho con người ở mức đồng ý được đồng thời bảo vệ chúng khỏi sâu, bệnh”. 

HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ Trên toàn cầu nbsp;

Theo số liệu công bố năm 2012 (FiBL và IFOAM, 2012) [7] của Viện Nghiên cứu và Truyền thông nông nghiệp hữu cơ (Communication, Research Instituteof Organic Agriculture FiBL) và Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Quốc tế (International Federation of Organic Agriculture Movements IFOAM), hiện trạng sản xuất và thương mại sản phẩm nông nghiệp hữu cơ toàn thế giới như sau: 

1/ Về sản xuất 

Năm 2010 toàn cầu có 160 nước được chứng nhận có sản xuất nông nghiệp hữu cơ (NNHC), tăng 6 nước so sánh với năm 2008/ Về diện tích, hiện tại có 37,3 triệu ha NNHC chiếm 0,9% diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn thế giới, trong đó 2/3 (23 triệu ha) là đất trồng cỏ và chăn thả đại gia súc. Có 2,72 triệu ha NNHC cây mỗi năm, gồm 2,51 triệu ha ngũ cốc (trong đó có lúa) và 0,27 triệu ha rau. Diện tích trồng trọt hữu cơ cây lâu năm là 2,7 triệu ha (0,6% tổng diện tích NNHC) và gia tăng 0,6 triệu ha so sánh với năm 2008, trong đó 3 cây quan trọng nhất là: cà phê (0,64 triệu ha), ô-liu (0,5 triệu ha) và cây lấy hạt có dầu (0,47 triệu hecta. Có 7/160 nước đạt diện tích NNHC cao trên 10%. 

Tại châu Âu, có 10 triệu ha NNHC với 219/431 hộ/trang trại. Các nước có diện tích NNHC lớn là: Tây Ban Nha (1,46 triệu ha), Italia (1,113 triệu ha) và Đức (0,99 triệu ha). Có 7 nước đạt diện tích NNHC cao hơn 10% là: Công Quốc Liechtenstein (27,3%), Áo (19,7%), Thụy Điển (12,6%), Estonia (12,5%), Thụy Sỹ(11,4%) và Séc (10,5%). 

Bắc Mỹ (gồm Mỹ và Canada) có 2,652 triệu ha NNHC, trong đó Mỹ1,948 triệu ha và Canada 0,702 triệu hecta. nbsp;

Châu Á có 2,8 triệu ha NNHC với 460.764 trang trại/ hộ sản xuất, trong đó dẫn đầu là Trung Quốc (1,39 triệu ha) và Ấn Độ(0,78 triệu ha). Nước có tỷ lệ diện tích NNHC cao nhất là Đông Timor (7%). 

Châu Phi có khoảng 1,1 triệu ha NNHC được chứng nhận với khoảng 544 ngàn trang trại. Những nước sản xuất NNHC chủ lực là Uganda (228/419 ha), Tunisia (175/066 ha) và Ethiopia (137/196ha). 

Mỹ La tinh có 8,389 triệu ha NNHC với 272/232 hộ/trang trại, trong đó Argentina 4,177 triệu hecta, Brazil 1,76 triệu ha và Uruguay là 930.965 ha (2009). Ba nước có tỷ lệ giá trị sản phẩm NNHC cao so sánh với GDP nông nghiệp là Malvinas (35,7%), Cộng hòa Đô-mi-ca-na (8,3%) và Uruguay (6,3%). 

Những châu Đại Dương bao gồm: Úc, Niu-di-lân, những quần đảo Fiji, PaPua New Guinea, Tonga, Vannuatu… có 12,144 triệu ha NNHC, trong đó 97% là của Oxtrâylia và là đất đồng cỏ tự nhiên với 8/432 trang trại đang sản xuất. 

Ngoài diện tích NNHC, thế giới còn có 43,0 triệu ha đất rừng nguyên sinh để khai thác sản phẩm hữu cơ tự nhiên (tăng 1,1 triệu ha so sánh với năm 2009 và 11,1 triệu ha so sánh với năm 2008). 

Hiện có 1,6 triệu hộ và trang trại NNHC, tăng 0,2 triệu hộ so sánh với năm 2008/ Phân bổ của số trang trại NNHC theo châu lục như sau: Châu Á 29%, châu Phi 34%, châu Mỹ 18%… Ba nước có rất nhiều trang trại hoặc hộ sản xuất NNHC là: Ấn Độ(400.551), Uganda (188/625), Mehico(128/862, sốliệu 2008). 

2/ Về thị trường 

Doanh thu năm 2010 từ việc bán thực phẩm và đồ uống có xuất xứ hữu cơ đã đạt 59,1 tỷUSD, tăng 4,2 tỷUSD so sánh với năm 2009 và gấp hơn 3 lần năm 2000 (18 tỷUSD). Những nước tiêu thụ nhiều sản phẩm hữu cơ nhất là Mỹ(26,7 tỷUSD), Đức (8,4 tỷUSD) và Pháp (4,7 tỷUSD); nhưng tính theo đầu người thì cao nhất là Thụy Sỹ, Đan Mạch và Luxemburg (tương ứng đạt 213, 198 và 177 USD/người/năm). 

Tại châu Âu, giá trị thương mại năm 2010 của những sản phẩm NNHC đạt khoảng 19,6 tỉ €, trong đó Đức 6,02 tỉ, Pháp 3,38 tỉ và Anh 2 tỉ €. Đan Mạch, Áo và Thụy Điển có giá trị sản phẩm NNHC cao hơn 5% GDP nông nghiệp. 

Chính phủ những nước Cộng đồng chung châu Âu và một vài nước hỗ trợ cho NNHC thông qua tài trợ những chương trình phát triển nông thôn, hỗ trợ phát triển thể chế và kế hoạch hành động quốc gia. Một nghiên cứu gần đây cho biết những nước châu Âu hiện có 26 bản kế hoạch hành động quốc gia về phát triển NNHC. 

Giá trị sản phẩm NNHC của Mỹ năm 2010 đạt 29,0 tỷ USD, trong đó có 10,6 tỷ USD (xấp xỉ 30%) là rau và quả hữu cơ, phục vụ 12% thị phần rau và quả tiêu thụ trong nước, cộng với 1,947 tỷUSD là những sản phẩm phi thực phẩm. Giá trị sản phẩm NNHC được tiêu thụ của Canada ước đạt khoảng 2,6 tỷ đôla Canada. 

Đa phần sản phẩm NNHC được chứng nhận của châu Phi là để xuất khẩu và đa phần sang thị trường châu Âu; riêng Uganda đạt doanh thu 37 triệu USD năm 2010/ NNHC đóng vai trò quan trọng đểgiúp châu Phi nâng cấp an ninh lương thực và ứng phó tốt hơn với thay đổi khí hậu. Do đó, Hội nghị NNHC Châu Phi lần thứ2 đã được tổ chức tại Zambia từ 15-19/5/2012, nhằm thúc đẩy nghiên cứu và phát triển lĩnh vực này. 

Tại châu Á, cho dù lượng sản phẩm NNHC còn chiếm thị phần nhỏ và chủyếu tiêu sử dụng trong nước, song Chính phủ đã nhận thức rõ cần phải đầu tư cho nghiên cứu – phát triển lĩnh vực này. Có 7 nước (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Đài Loan và Malaysia) đã ban hành và ứng dụng qui định tiên quyết về gắn nhãn dãn những sản phẩm NNHC trước khi tiêu thụ. Một vài nước như Sri-Lanka, Nepal, Thái Lan và Indonesia đã hình thành những cơ quan giám sát và cấp chứng chỉ chất lượng sản phẩm NNHC. 

Tại Mỹ La tinh, đa phần sản phẩm NNHC cơ được xuất khẩu sang châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản với những những ngành hàng chủ lực là: quả nhiệt đới, ngũ cốc, cà phê, ca cao, đường và thịt. Đã có 18 nước thuộc khu vực ban hành và hiện có thêm 5 nước đang hoàn thiện khung pháp lý. Hỗ trợ phát triển NNHC tại những quốc gia này thông qua chương trình thúc đẩy sản xuất và giúp xuất khẩu sản phẩm. 

Tại châu Đại dương, đa phần sản phẩm NNHC được chứng nhận là để xuất khẩu, thị trường tiêu thụ trong nước chưa phát triển và trong một vài trường hợp thậm chí chưa được tạo thành. Sản phẩm NNHC thường hay được bán dưới dạng sản phẩm “truyền thống”, không có sự khác nhau về giá so sánh với những sản phẩm thông dụng. Thị trường tiêu thụ trong nước đa số là để phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch.

3/ Những nỗ lực phát triển thể chế và chứng nhận tiêu chuẩn 

Hiện tại có 84 nước xây dựng xong và 24 nước khác đang hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Trong trong một vài năm trở lại đây đã tạo thành nhiều tổ chức (đa phần từ Châu Âu) cung cấp dịch vụ chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đạt tiêu chuẩn. Tính tới 2010 có tổng số 549 tổ chức cung ứng dịch vụ này (tăng 17 tổ chức so sánh với con số 532 của năm 2009) và đa phần thuộc EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Canada và Brazil (riêng Nhật Bản có 61 tổ chức cung cấp dịch vụ). 

Quản lý chất lượng chuỗi giá trị hữu cơ theo biện pháp Hệ thống đảm bảo cùng tham dự (Participatory Guarantee System-PGS) đang được đông đảo nước quan tâm và ứng dụng, nhằm phục vụ nhu cầu nâng cao nhanh chóng về số trang trại nông nghiệp hữu cơ tại những nước đó. Đi đầu trong ứng dụng thành công PGS là những nước khu vực Mỹ La tinh (nổi trội là Bra-xin) và Ấn Độ, với rất nhiều bước tiến quan trọng trong việc ban hành thể chế cho ứng dụng biện pháp này.

Mời những bạn đón đọc tiếp phần 2: Sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam

(Do nội dung bài viết tương đối dài nên Biên tập Website www.sieuthiphanthuoc.org  xin tách thành những bài tách biệt. Trong bài viết có một vài từ ngữ thay đổi từ viết tắt thành viết đầy đủ ở một vài đoạn văn nhằm mục đích quảng cáo (SEO) bài được tốt hơn. VD: từ “NNHC” một vài đoạn được sửa “thành nông nghiệp hữu cơ”. Cực kỳ mong được tác giả bài viết thông cảm!)

Nguồn: iasvn.org

– Tham khảo thêm chủ đề: Nguyễn Văn Bộ, nông nghiệp hữu cơ, Ngô Doãn Đảm, thay đổi gen

Ngoài ra, trong bài viết này, chúng tôi có đề cập đến 1 số loại dinh dưỡng và sâu bệnh, quý bà con có thể dụng các loại thuốc sau để điều trị cho cây trồng:

Nhấp vào nút Mua Nhanh bên dưới để đặt mua qua chúng tôi.

LIÊN HỆ MUA HÀNG : 0982.427.033