Nhu cầu dinh dưỡng cần thiết đối với cây trồng

Nhu cầu dưỡng chất cấp thiết đối với các loại cây trồng

Khi tiến hành trồng cây, muốn cây phát triển sinh trưởng tốt, cây phát triển khỏe khoắn, cho năng suất cao, thì cần nắm bắt được những nhu cầu dưỡng chất cấp thiết đối với các loại cây trồng để phục vụ kịp lúc dưỡng chất cho cây trồng. Việc bổ sung dưỡng chất đúng và kịp lúc cho cây trồng hỗ trợ cây đạt được năng suất chất lượng nông sản cao. Khi nắm bắt được cây trồng thiếu gì và thừa chất gì sẽ hỗ trợ cho việc chăm bón cây trở thành dễ hơn. Có 2 nhóm dưỡng chất chính cung ứng cho cây trồng là dinh dưỡng cấp thiết và dinh dưỡng có ích

Nhu cầu dinh dưỡng cần thiết đối với cây trồng

Những dưỡng chất cấp thiết cho cây trồng

1/ Dưỡng chất cấp thiết

– Dưỡng chất cấp thiết là chất mà cây trồng nhất thiết phải được cung ứng đầy đủ khi tiến hành trồng cây, trong thời kỳ nuôi cây và nếu thiếu những chất dinh dưỡng cấp thiết cây trồng sẽ không hoàn tất được chu kỳ sống, hoặc bị tác động rất nghiêm trọng đến sự phát triển và phát triển của cây.

– Dưỡng chất cấp thiết bao gồm 16 nguyên tố: những bon (C), hydro (H), oxy (O), đạm (N), lân (P), kali (K), canxi (Ca), magiê (Mg), lưu huỳnh (S), săt (Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), măngan (Mn), bo (B), molypden (Mo), clo (Cl). Các chất này tham dự vào thành phần kết cấu những chất hữu cơ đa phần trong cây, hoặc xúc tác cấp thiết cho sự tổng hợp vật chất và những quá trình sinh lý trong cây.

2/ Dưỡng chất có ích

– Dinh dưỡng có ích là chất mà nếu như không có nó cây vẫn có thể phát triển sinh trưởng 1 cách bình thường, nhưng nếu được bổ sung thêm sẽ làm cây phát triển sinh trưởng thuận lợi hơn, tốt hơn và mang lại giá trị cao hơn cho từng nhóm nông sản. Thường thì, các chất này cây cần với lượng cực kỳ ít và có thể gọi là nhóm siêu vi lượng.

– Chất siêu vi lượng gồm: cô ban (Co), natri (Na), nhôm (Al), niken (Ni), vanadi (V)… và những nguyên tố đất hiếm (lanthanum, cerium, praseodymium, samarium, europium, gadolinium, terbium, dysprosium, thulium…).

Nhu cầu dinh dưỡng cần thiết đối với cây trồng

Dấu hiệu của cây bị thiếu dưỡng chất

3/ Chức năng của từng chất dinh dưỡng đối với các loại cây trồng

3/1/ Chức năng của đạm (N)

– Chất đạm đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với các loại cây trồng. Chất đạm là thành phần của protein, diệp lục tố. Nó tham dự vào cấu trúc của tế bào và trong nhiều quá trình biến dưỡng. Chất đạm được xếp vào nguyên tố khoáng.

– Đạm giúp kích thích mô tăng sinh trưởng cây trồng.

– Cây trồng hấp thu N ở dạng NO3, NH4+; có nhiệm vụ giúp tăng trưởng lá và lá có màu xanh (N là cấu trúc của diệp lục tố).

– Đạm cực kỳ dễ bị rửa trôi, nhất là dạng NO3. Chất N có thể di động từ lá già đến lá non.

– Thiếu N cây phát triển kém, lá có màu xanh nhạt hay vàng, đâm tược kém; dấu hiệu thiếu xuất hiện giai đoạn đầu ở lá già.

– Cây thừa N sẽ có lá màu xanh đậm, dầy, bóng, đậu quả kém và xẩy ra hiện trạng thiếu calcium. Bón N tối ưu nhất có tỷ lệ NH4+/NO3 là 1/1, bón nhiều NH4+ có khả năng làm lá cong vẹo.

– Bón lân nhiều ngăn không cho hấp thu N. Bón kali và N theo tỷ lệ 1/1 là tối ưu cho sự hấp thu N.

3/2/ Chức năng của lân (P2O5)

– Lân đóng vai trò chính trong suốt tiến trình trao đổi năng lượng và protein

– Là thành phần kết cấu photphatides, axit nucleic, protein, photphos – lipid, coenzym NAD, NADP.

– Lân là thành phần không thể không có trong aminoaxit, ATP

– Lân cực kỳ cấp thiết trong suốt quá trình phân chia tế bào, là thành phần của nhiễm sắc thể.

– Lân thúc đẩy quá trình phát triển của rễ; hỗ trợ cây ra bông nhiều và có chất lượng quả tốt; đẩy mạnh khả năng kháng bệnh cho cây. Lân không bị rửa trôi khỏi đất. Trong cây, lân di động từ lá già đến lá non.

Thiếu lân cây phát triển kém ; lá có màu xanh đậm; lá già có màu tím hay đỏ, nhất là dọc theo gân ở mặt dưới lá; lá có khả năng bị biến đổi về hình dạng, cành mảnh khảnh, rễ kém phát triển.

– Cây thừa lân sẽ bộc lộ dấu hiệu thiếu dinh dưỡng kẽm, sắt. Ở đất chua, lân cực kỳ dễ bị cố định bởi sắt, mangan và nhôm. Bón nhiều lân gây giảm hấp thu vi lượng và N. So sánh với N và K thì hãy bón lân với lượng ít hơn.

3/3/ Chức năng của kali (K2O)

– Kali có thể tăng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh độ pH, lượng nước ở khí khổng.

– Hoạt hóa enzyme có liên quan đến quang hợp

– Giúp tổng hợp vận chuyển hydratcacbon, tổng hợp protein

– Nâng cấp khả năng quang hợp khi trời lạnh và mây mù, đẩy mạnh khả năng và những điều kiện khí hậu không có lợi của môi trường.

– Kali giúp nâng cao chất lượng của quả và rau

3/4/ Chức năng của cacbon (CO2)

– Cacbon được cây hút dạng CO2 trong không khí qua khí khổng của lá nên không được xếp vào nguyên tố khoáng. Nhờ năng lượng ánh sáng mặt trời và nước C được đồng hóa hình thành hydrat cacbon, thành phần đa phần trong cấu trúc và dự trữ của cây.

– Trong hoàn cảnh trồng trọt bình thường không hề thiếu CO2, nguồn cung ứng cacbon.

3/5/ Chức năng của oxy (O2)

– Oxy được dùng trong cây đa phần từ quang phân ly nước. Bên cạnh đó, trong suốt quá trình đồng hóa CO2 oxy được giải phóng và tái dùng trong một vài cho trình sinh học. Giống như cacbon, oxy không được xếp vào nguyên tố khoáng. Oxy là thành phần cấu trúc của hydrat cacbon và tham dự vào nhiều quá trình sinh hóa trong cây.

– Trong hoàn cảnh bình thường cây không hề thiếu oxy.

3/6/ Chức năng của canxi (Ca)

– Canxi là thành phần màng tế bào dưới dạng canxi pectate cấp thiết cho sự phân chia tế bào được bình thường

– Hỗ trợ cho màng tế bào được bền vững, duy trì cấu trúc nhiễm sắc thể

– Hoạt hóa nhiều enzyme như photpholipaza, arginine, triphotphataza

– Kích thích rễ và lá cây phát triển.

– Tạo thành những hợp chất cấu thành màng tế bào, làm cây trở thành cứng cáp.

– Giúp gây giảm hàm lượng đạm Nitrat trong cây.

– Giúp đẩy mạnh hoạt tính của một vài hệ thống men trong cây.

– Giúp trung hòa những axit hữu cơ trong cây.

– Cực kỳ cấp thiết cho sự phát triển của hạt đậu.

– Tác động gián tiếp tới năng suất cây trồng nhờ gây giảm độ chua trong đất, vậy nên gây giảm sự gây độc của Mangan, sắt, đồng, nhôm (nếu hàm lượng cao).

– Gián tiếp nâng cao năng suất cây trồng nhờ đẩy mạnh sự sinh trưởng của bộ rễ, kích thích hoạt động của vi sinh vật, thúc đẩy sự hữu ích của Molipden và việc hút những nguyên tố dinh dưỡng khác.

– Cực kỳ cấp thiết đối với vi khuẩn cố định đạm.

– Cây hấp thu Ca ở dạng Ca++. Chất Ca cũng dễ bị rửa trôi ra khỏi đất. Trong cây, Ca không di động từ lá già đến lá non. Chất Ca cấp thiết cho sự phát triển của chồi và chóp rễ; hỗ trợ cây hạ sự ngộ độc của nhôm và mangan; và kháng lại nấm bệnh (làm bền vững vách tế bào).

– Thiếu Ca, chồi non không phát triển được; rễ có thể chuyển sang đen và thối đi; lá non bị cong dủm lên, có màu xanh không bình thường và chóp lá có thể dính lại nhau; lá già cũng bị cong dủm lên, trái bị thối ở phần dưới đáy, thân yếu ớt, trái rụng sớm.

– Thừa Ca, cây không hấp thu được Mg. Đất ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều hay bị thiếu Ca do đất chua và rửa trôi dẫn tới cây không hấp thu được Ca.

– Rắc vôi dạng đá vôi nghiền mịn hay đá vôi nung hoặc phun qua lá CaCl2 có thể giải quyết hiện trạng thiếu Ca.

3/7/ Chức năng của chất Magnesium (Mg)

Magie là thành phần kết cấu của diệp lục tố, đóng vai trò quan trọng trong quang hợp

– Chất Mg tham dự vào hạt nhân trung tâm của phân tử diệp lục nên đóng vai trò tích cực trong quang hợp của cây.

– Mg và đạm là 2 nguyên tố dinh dưỡng độc nhất trong đất tham dự kết cấu nên Chlorophyll (diệp lục), mà nhờ có nó cây trồng mới quang hợp, tạo ra toàn bộ những vật chất khác kết cấu nên sự sống.

– Trong cây, Mg đa phần tham dự vào thành phần diệp lục, bên cạnh đó còn thấy trong thành phần hạt.

– Mg cũng hỗ trợ đẩy mạnh đồng hóa lân, đẩy mạnh hô hấp và hoạt hóa nhiều hệ thống men trong cây.

– Chất Mg được cây hấp thu ở dạng Mg++, là cấu trúc của diệp lục tố giúp lá có màu xanh. Chất Mg cực kỳ dễ bị rửa trôi khi đất có rất nhiều cát.  Trong cây, Mg di động từ lá già đến lá non.

– Thiếu Mg cây phát triển kém ; lá già có màu vàng, màu đồng hoặc màu đỏ ở phần thịt lá nhưng gân lá vẫn còn xanh; bìa lá có khả năng bị cong xuống hoặc dủm lên với các nếp nhăn nheo.

– Cây thừa Mg sẽ ít hấp thu Ca; lá già có các đốm bị hoại tử, các gân nhỏ của lá già này có thể chuyển sang màu nâu. Chất Mg thường bị thiếu trong cây vì chất này cực kỳ dễ bị rửa trôi.

Bón phân vôi Dolomite hoặc phun phân MgCl2 lên lá cũng hỗ trợ cây giải quyết được dấu hiệu thiếu Mg.

3/8/ Chức năng của lưu huỳnh (S)

– Lưu huỳnh là thành phần của những axit amin có chứa lưu huỳnh cũng như amino axit.

– Liên quan đến hoạt động trao đổi chất của vitamin, biotin, thiamin và coenzyme A.

– Hỗ trợ cho cấu trúc protein được bền vững

– Lưu huỳnh tham dự vào 2 trong số 21 Amino Axit trong thành phần Protein.Giúp tạo thành những men và Vitamin.Đẩy mạnh nốt sần cố định đạm trong cây họ đậu. Giúp nâng cao năng suất cây trồng lấy hạt. Cực kỳ cấp thiết trong suốt quá trình tạo thành diệp lục cho dù không có trong thành phần diệp lục. Tham dự vào thành phần một vài chất hữu cơ tạo thành nên mùi của tỏi, hành và mù tạt.

– Chất lưu huỳnh không di động trong cây. Đa số đất ở ĐBSCL có cực kỳ nhiều lưu huỳnh ở dạng hữu ích, cây trồng không bị thiếu dinh dưỡng này.

3/9/ Chức năng của chất Bo

– Bo đóng vai trò trong sự nối dài tế bào, trong sự tổng hợp axit nucleic, trong phản ứng của hoocmon và vai trò của membran (theo Shelp, 1993).

– Dấu hiệu thiếu hụt Bo có rất nhiều dấu hiệu khác nhau dựa vào loài, tuổi của cây. Tiêu biểu là một số điểm chết đen ở lá non và chồi đỉnh và tác hại này thể hiện ở những lá non và phần dưới của phiến lá, thân bị cứng. Mất lợi thế ngọn khiến cho cây phân cành nhiều, những chồi ngọn của những cành cũng bị hại và do sự phân chia tế bào bị kìm hãm. Cấu trúc của quả, rễ củ và củ thường dị dạng hoặc bị thối do những mô phía bên trong bị hỏng. 

3/10/ Chức năng của chất Mangan

– Ion Mn2+ hoạt hóa nhiều enzyme trong tế bào thực vật, nhất là những enzyme dehrogenase, decacboxilase trong chu trình Kreb đều được hoạt hóa bởi mangan. Chức năng rõ ràng nhất của mangan là trong phản ứng quang phân ly nước của quang hợp.

– Dấu hiệu thiếu hụt mangan tiêu biểu là sự mất màu của những gân và sự xuất hiện một số điểm chết nhỏ. Sự mất màu có thể xẩy ra ở lá già, lá non hoặc tuy thuộc loài cây và tốc độ sinh trưởng. 

3/11/ Chức năng của chất Kẽm (Zn)

– Nhiều enzyme cần có ion kẽm cho hoạt động của bản thân. Kẽm cần cho sự sinh tổng hợp diệp lục ở một vài cây.

– Sự thiếu hụt chất kẽm thể hiện rõ là hạ sự phát triển của đốt, lá thường nhỏ, viền lá bị nhăn nheo. Dấu hiệu này gây nên do mất đi khả năng sản xuất hàm lượng auxin.

– Trong một vài loài (ngô, kê, đậu), lá già có thể trở thành bị mất mầu ở phần gân và tiếp đến phát triển một số điểm chết mầu trắng. Hiện tượng mất màu là một sự thể hiện thiếu kém cho quá trình lớn lên của diệp lục. 

3/12/ Chức năng của chất Đồng (Cu)

– Đồng thường hay được kết hợp với những enzyme oxi hóa khử (Cu2+ + e – <=> Cu+).

– Dấu hiệu giai đoạn đầu của sự thiếu hụt chất đồng là loại lá bị chuyển sang màu xanh đen và có mặt một số điểm hoại thư. Điểm hoại thư xuất hiện trước tiên ở đỉnh lá non sau lan xuống bên dưới dọc theo mép lá. Lá có thể biến đổi về hình dạng khi thiếu đồng, nếu thiếu  nghiệm trọng thì lá có khả năng bị rụng. 

3/13/ Chức năng của chất Molybden (Mo)

– Ion molybden (Mo4đến Mo6+) là thành phần của một vài enzyme như nitrat reductase và nitrogenase. Enzyme nitrat reductase xúc tác cho phản ứng khử nitrat thành nitrit trong suốt quá trình đồng hóa chúng ở tế bào thực vật; enzyme nitrogenase thay đổi khí nitơ thành amon trong những vi sinh vật cố định nitơ.

– Biểu hiện giai đoạn đầu của sự thiếu hụt molybden là sự mất màu giữa những gân lá và một số điểm hoại thư ở lá già.Thiếu hụt molybden có thể gây nên sự thiếu hụt nitơ nếu nguồn nitơ cung ứng đa số là nitrat hoặc trên cây trồng phụ thuộc đa phần vào nguồn nitơ cố định bởi vi sinh vật cộng sinh.

– Cây yêu cầu lượng molybden cực kỳ thấp. Sự bổ xung một lượng nhỏ molybden trên đất thiếu cũng đã gây nên hiệu quả cực kỳ cao. 

3/14/ Chức năng của chất Sắt (Fe)

– Sắt là cấu tử của đa số enzyme đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển điện tử (những phản ứng oxy hóa khử) như những cytocrom. Trong suốt quá trình vận chuyển điện tử, sắt được oxy hóa từ Fe2+ thành Fe3+.

– Ở ĐBSCL chủ yếu là đất chua nên không hề thiếu sắt, trái lại sắt là chất gây độc cho cây trồng trên đất phèn.

3/15/ Chức năng của chất Niken (Ni)

– Cho đến bây giờ chỉ phát hiện được enzym urease ở cây cối thượng đẳng là enzyme chứa niken. Những vi sinh vật cố định nitơ có mong muốn về niken cho những enzyme tham dự vào quá trình tạo khí hyđro trong suốt quá trình cố định đạm.

– Sự thiếu hụt niken làm cây tích lũy ure trong lá dẫn tới gây chết những ngọn lá. Dấu hiệu thiếu hụt niken đối với các loại cây chỉ xẩy ra khi cây trồng trên các loại đất đặc biệt cực kỳ thiếu niken chính vì nhu cầu về niken của cây là cực kỳ thấp. 

3/16/ Chức năng của chất Na (Na)

– Đa số những loài thực vật C4 và CAM đều cần natri. Ở những cây này, natri cần cho sự tái tạo phosphoenolpyruvat – chất giai đoạn đầu của phản ứng cacboxil hóa ở cây C4 và CAM. Khi thiếu natri thì các cây này bị mất màu và bị hoại tử hoặc không còn khả năng ra bông.

– Đa số loài cây C3 cũng sinh trưởng tốt khi có mặt ion Na+. Natri kích thích sinh trưởng qua việc đẩy mạnh sự giãn tế bào và có thể thay thế phần nào kali như một chất tan có hoạt tính thẩm thấu.

Nguồn: tổng hợp – LP

– Tham khảo thêm chủ đề: nhu cầu dưỡng chất của cây trồng, cây trồng gồm các dưỡng chất gì, cây trồng cần dinh dưỡng gì để nuôi cây khỏe, dinh dưỡng cấp thiết là gì, dinh dưỡng có ích là gì, chức năng của dinh dưỡng đối với các loại cây trồng

Ngoài ra, trong bài viết này, chúng tôi có đề cập đến 1 số loại dinh dưỡng và sâu bệnh, quý bà con có thể dụng các loại thuốc sau để điều trị cho cây trồng:

– Giúp ngăn ngừa NGỘ ĐỘC: siêu phục hồi,

– Giúp trị bệnh NẤM BỆNH: agri-fos 458 blue, agri-life 100sl, aikosen 80wp, alpine 80wdg, amistar 250sc, amistar top 325sc, amtech 100ew, antracol 70wp, anvil 5sc, athuoctop 480sc,

Nhấp vào nút Mua Nhanh bên dưới để đặt mua qua chúng tôi.

LIÊN HỆ MUA HÀNG : 0982.427.033