Những điều cần biết về Bệnh bạc lá

Bạc lá lúa

Tên khoa học: Xanthomonas campestris pv. Oryzae Dowson

Bệnh bạc lá lúa được tìm thấy giai đoạn đầu tại Nhật Bản vào khoảng năm 1884 – 1885/ Bệnh phổ biến ở hầu hết khắp những nước trồng lúa trên toàn cầu, đặc trưng ở Nhật Bản, Trung Quốc, Philippines, Ấn Độ, Xaaylan. Ở Việt Nam, bệnh bạc lá lúa đã đươc phát hiện từ rất lâu trên những giống lúa mùa cũ. Nổi bật là, từ năm 1965 – 1966 trở lại đây, bệnh thông liên tục phá hại 1 cách rất nghiêm trọng ở những khu vực trồng lúa trên những giống nhập nội có cho năng suất cao cấy trong vụ chiêm xuân và đặc trưng ở vụ mùa. 

Bệnh bạc lá

Mức độ, sự gây hại của bệnh dựa vào giống, giai đoạn bị nhiễm bệnh của cây sớm hay muộn và mức độ bị nhiễm bệnh nặng hay nhẹ, bệnh làm lá lúa nhất là lá đòng sớm tàn, mau chóng chết khô, bộ lá sơ xác, tỷ lệ hạt lép cao, năng suất sụt giảm rõ ràng. 

1/ Dấu hiệu gây bệnh của bệnh bạc lá lúa 

Bệnh bạc lá lúa phát sinh gây thiệt hại suốt giai đoạn mạ đến khi lúa chín, nhưng có dấu hiệu tiêu biểu là giai đoạn lúa cấy tren ruộng từ sau khi lúa đẻ – trỗ – chín – sữa. 

Bệnh bạc lá

– Vết bệnh dấu hiệu bạc lá lúa thời kỳ mạ: Dấu hiệu tạo bệnh không đặc thù như trên lúa, vậy nên dễ nhầm lẫn với những hiện tượng khô đầu lá lúa do sinh lý. Vi khuẩn hại mạ gây nên dấu hiệu ở mép lá, mút lá với các vệt có độ dài ngắn khác nhau, có màu xanh vàng, nâu bạc rồi khô xác.

Bệnh bạc lá

– Vết bệnh biểu hiện bạc lá lúa trên cây lúa thời kỳ sinh trưởng: Dấu hiệu bệnh dấu hiệu rõ dệt hơn, tuy vậy nó có thể thay đổi ít nhiều dựa theo giống và điều kiện ngoại cảnh. Vết bệnh từ mép lá, mút ls lan dần vào trong phiến lá hoặc nối dài theo gân chính, nhưng cũng có vết bệnh từ ngay giữa phiến lá tỏa ra ra. Vết bệnh tỏa ra theo đường gợn sóng màu vàng, mô bệnh xanh tái, vàng lục, lá nâu bạc, khô xác. 

Thành quả nghiên cứu của Bộ môn bệnh cây – Trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam cho biết: Có 2 loại hình dấu hiệu của bệnh bạc lá lúa: Bạc lá gợn vàng và bạc lá tái xanh. Loại bạc lá gợi vàng phổ biến trên đa số những giống và những mùa vụ, còn loại hình bạc lá tái xanh thường chỉ thường xuất hiện trên 1 số giống lúa, đặc biệt đối với những giống lúa ngắn ngày, chịu phân, phiến lá lớn, thế lá đứng, chẳng hạn như giống T1, X1, NN27,…

Bệnh bạc lá

– Thường thì ranh giới giữa mô bệnh và mô khỏe được phân biệt rõ rệt, có giới hạn theo đường gợn sóng màu vàng hoặc không vàng, có khi chỉ là một đường viền màu nâu đứt quãng hay không đứt quãng. 

– Cắt bỏ các đoạn vết bệnh dài 3 – 5 centimét, quấn bông thấm nước thành từng bó nhỏ đặt vào cốc nước vô trùng hoặc nước muối sinh lý 0,85% ngập 2/3/ Ở trên cốc đậy nắp kín. Sau 2 – 3 giờ nếu trên những mô lá bệnh phát triển những giọt dịch nhỏ màu hơi vàng trên đầu lát cắt, đó là dấu hiệu bệnh bạc lá vi khuẩn. 

Bệnh bạc lá

 Lá lúa bị nhiễm bệnh bạc lá 

– Trong hoàn cảnh nhiệt độ, độ ẩm cao, ở trên bề mặt vết bệnh dễ xuất hiện các giọt dịch vi khuẩn hình tròn nhỏ, có màu vàng đục, khi keo đặc rắn cứng có màu nâu hổ phách. Lưu ý dễ nhầm lẫn với bệnh vàng lá, khô đầu lá do sinh lý. Do đó, việc chuẩn đoán nhanh nên ứng dụng biện pháp giọt dịch. 

Bệnh bạc lá

Ruộng lúa bị cháy do bệnh bạc lá

2/ Nguyên do tạo bệnh bạc lá lúa

– Vi khuẩn tạo bệnh bạc lá lúa trước đây có tên là Pseudomonas oryzae, hoặc Phytomona ozyzae, về sau Downson đặt tên là Xanthomonas oryzae Dowson. 

– Vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. Oryzae Dowson có dạng hình gậy hai đầu hơi tròn, có một lông roi ở một đầu, kích cỡ 1 – 2x 0,5 – 0,9 micrromet. 

Bệnh bạc lá

– Ở trên môi trường nhân tạo, khuẩn lạc vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. Oryzae Dowson có dạng hình tròn, có màu vàng sáp, rìa nhẵn bề mặt khuẩn lạc ướt, hảo khí nhuộm gram âm. Vi khuẩn không có thể phân giải Nitrat, không dịch hóa gelatin, không tạo NH3, indol, nhưng tạo H2S, tạo khí nhưng không tạo axit trong môi trường có đường. Nhiệt độ phù hợp cho vi khuẩn sinh trưởng từ 26 – 30 độ C, nhiệt độ ít nhất là 0 – 5 độ C, nhiều nhất là 40 độ C. Nhiệt độ làm vi khuẩn chết 53 độ C. 

– Vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. Oryzae Dowson có khả năng sống trong khuôn khổ tương đối là pH tương đối rộng từ 5,7 – 8,5, phù hợp nhất là pH 6,8 – 7,2/ 

– Vi khuẩn thâm nhập có tính chất thụ động, có khả năng xâm nhập qua thủy khổng, lỗ khí ở phía trên mút lá, mép lá, đặc biệt qua vết thương sây sát trên lá. Khi tiếp xúc với bề mặt có màng nước, vi khuẩn dễ dàng di động thâm nhập vào phía bên trong qua những lỗ khí, vi khuẩn dễ dàng di động thâm nhập vào phía bên trong qua những lỗ khí, qua vết thương mà sinh sản nhân lên về mặt số lượng, theo những bó mạch dẫn tỏa ra đi. 

– Trong hoàn cảnh mthích ẩm thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn, ở trên bề mặt vết bệnh tiết ra các giọt dịch vi khuẩn. Thông qua sự va chạm giữa những lá lúa, nhờ mưa gió truyền lan bệnh sang những lá khác để triển khai xâm nhập và lây nhiễm lặp lại lặp lại rất nhiều lần trong giai đoạn sinh trưởng của cây lúa. Bởi vậy, bệnh bạc lá lúa tuy là một trong các dạng bệnh có cự ly truyền lan hẹp song nó còn phụ thuộc vào mưa bão xẩy ra vào cuối vụ chiêm xuân và trong vụ mùa mà bệnh có thể truyền lan với khuôn khổ không gian tương đối rộng, giọt keo vi khuẩn tạo thành nhiều, đó là 1 trong các nguyên do quan trọng khiến cho bệnh bạc lá phát sinh phát triển mạnh sau các đợt mưa xẩy ra trong vụ chiêm xuân và vụ mùa.

3/ Đặc tính phát sinh, phát triển bệnh, mức độ phát tán của bệnh bạc lá lúa 

Ở bắc bộ nước, bệnh có thể phát sinh phát triển ở toàn bộ những vụ trồng lúa. Vụ chiêm xuân, bệnh thông thường phát sinh vào tháng 3 – 4, phát triển mạnh hơn vào tháng 5 – 6 khi mà lúa chiêm xuân trỗ và chín, xong ở vụ chiêm xuân trỗ và chín, song ở vụ chiêm xuân mức độ bị nhiễm bệnh thông thường nhẹ hơn, tác hại ít hơn so sánh với vụ mùa trừ 1 số giống lúa xuân cấy muộn, bị bệnh ngay từ khi lúa làm đòng thì sự gây hại của bệnh có thể sẽ lớn. 

– Bệnh bạc lá lúa thường phát sinh và gây nên tác hại lớn trong vụ mùa. Bệnh có thể phát sinh sớm vào tháng 8, khi lúa để đến khi lúa làm đòng, trỗ – chín sớm sữa với những trà lúa sớm. Đối với những giống lúa mẫm cảm bệnh thông thường bị nhiễm bệnh bệnh cực kỳ sớm và tương đối nặng, hạ năng suất nhiều. Những trà lúa cấy muộn trỗ vào tháng 10 thường bị nhiễm bệnh nhẹ hơn, sự gây hại của bệnh cũng ít hơn. 

– Nói chung, bệnh tiến triển mạnh vào thời kỳ cây lúa dễ bị bệnh nhất, đó là lúc lúa làm đòng và chín sữa. 

– Bệnh sinh trưởng và phát triển mạnh và truyền lan nhanh trong hoàn cảnh từ 26 – 30 độ C, độ ẩm cao từ 90% trở lên. Nếu nhiệt độ bảo đảm cho bệnh tiến triển, thì độ ẩm, lượng mưa lớn có ý nghĩa ảnh hưởng đến mức độ bị nhiễm bệnh. Các đợt mưa tháng 8 không chỉ gây vết thương trên lá mà còn khiến cho vi khuẩn sinh sản nhanh, số lượng keo vi khuẩn tạo thành nhiều, tạo cơ hội cho sự xâm nhập và lây nhiễm và truyền lan mau chóng. 

Cách trồng trọt là 1 trong các điều kiện quan trọng ảnh hưởng nhiều đến sự phát sinh tiến triển của bệnh. Các khu vực đất màu mỡ, nhiều chất hữu cơ, bệnh thông thường phát triển nhiều hơn ở chân đất xấu, cằn cỗi. Phân đạm vô cơ gây ảnh hưởng rõ ràng tới sự phát sinh tiến triển của bệnh. Những dạng đmạ vô cơ dễ khiến cho cây lúa bị bệnh mạnh hơn đạm hữu cơ, phân xanh bón vùi giập cũng khiến cho lúa bị bệnh mạnh hơn phân chuồng ủ hoai mục. 

– Nếu bón quá nhiều đạm, cây lúa xanh tốt, thân lá mềm yếu, hàm lượng đạm tự do trong cây tích lũy cao thì cây dễ bị bệnh nặng. Ở vụ xuân, có thể bón đạm với số lượng cao hơn vụ mùa. Bón phân sâu, bón tập trung, bón nặng đầu nhẹ cuối, bón thúc sớm, bón thúc sớm khiến cho cây lúa để nhánh tập trung, đẻ nhanh thì bệnh bạc lá sẽ nhẹ hơn so sánh với bón phân không tập trung và bón muộn. Nếu bó đạm hài hòa, tuy vậy khi đã bón với lượng đạm quá cao (120 – 150 N/ hecta ) thì dù có bón thêm kalilân công dụng với bệnh cũng không thể hiện rõ ràng. 

– Ở các nơi đất chua, úng ngập nước hoặc mực nước sâu, nhất là các khu vực đất hẩu, nhiều mùn, hàng lúa bị bóng cây bao phủ bệnh bạc lá có thể phát triển mạnh hơn. 

Nói chung, giai đoạn mạ đến lúa đẻ nhánh là giai đoạn bệnh tương đối ít hơn so sánh với thời kỳ cuối đẻ nhánh. Thời kỳ lúa làm đòng – trỗ – chín sữa là thời kỳ mẫn cảm với bệnh, hiện tượng này thể hiện tương đối sắc nét trên những giống lúa ngắn ngày phàm ăn chịu phân có cho năng suất cao cấy trong vụ chiêm xuân và vụ mùa. 

4/ Giải pháp phòng chữa bệnh bạc lá lúa 

(Ngày nay chưa có loại thuốc đặc hiệu chữa bệnh bạc lá lúa. Chỉ có loại thuốc mới, khả năng phòng bệnh tốt, trừ được bệnh khi vừa mới phát sinh, cấp bệnh nhẹ (cấp bệnh C1-2) và một số thuốc thành phẩm thông dụng có rất nhiều trên thị trường có công dụng phòng chữa bệnh bạc lá lúa…)

4/1/ Giải pháp trồng trọt, cách phòng chữa bệnh bạc lá lúa: 

+ Dùng những giống lúa chóng bệnh, chịu bệnh để gieo trồng là giải pháp chính trong khu vực phòng chữa bệnh bạc lá. Xử lý hạt giống trước khi tiến hành gieo nếu lô hạt bị lây nhiễm. 

+ Điều khiển sự phát triển của cây tránh thời kỳ lúa làm đòng – trỗ trùng với các điều kiện có lợi cho bệnh phát triển. Bón phân đúng cách, đúng thời kỳ, bón đạm nặng đầu nhẹ cuối, bón thúc sớm hài hòa với kali theo tỷ lệ ổn định (1:1)

+ Ruộng nên điều chỉnh mức nước phù hợp, nên để mức nước nông (5 – 10 centimét ), đặc biệt là sau khi lúa để nhánh, nếu nhận thấy bệnh bắt đầu xuất hiện thì có thể rút nước, tháo nước để khô ruộng trong 2 – 3 ngày để ngăn ngừa sự phát triển của cây. 

+ Thực thi chăm sóc lúa theo phương pháp canh tác lúa cải tiến SRI. Đối với những tỉnh phía Bắc: những giống lúa lai trong vụ phải lưu ý sắp xếp cơ cấu mùa vụ và xác định vùng sản xuất, nói chung đừng nên sắp xếp nhiều diện tích lúa lai trong vụ mùa. Đối với những giống lúa chất lượng trong vụ mùa nên sắp xếp cấy lùi thời vụ vào cuối tháng 7 để lúa trỗ trong khoảng từ 25/9 đến 5/10 vào lúc thời tiết mát sẽ đỡ bị bạc lá hơn.

+ Cấy mạ đủ tuổi cũng là một giải pháp hạ nhẹ bệnh.

+ Bón phân hài hòa NPK, bón tập trung ‘nặng đầu, nhẹ cuối’ (bón lót sâu, bón thúc sớm hết lượng đạm và kali), không bón thừa, bón muộn phân đạm; hạn chế bón kali vào lúc lúa đứng cái vì như vậy cây lúa bị huy động đạm nên dễ bị bạc lá.

+ Rắc vôi từ 10-15 kilogam /sào Miền bắc, làm đất phải đủ ngấu để giúp tránh ngộ độc rễ, có thể rắc tro bếp thay cho vôi bột.

+ Liên tục kiểm tra ruộng đồng, nhất là sau các đợt mưa giông, bão. Khi nhìn thấy bệnh phát triển, ngừng ngay viêc bón phân đạm, không xịt các chất kích thích sinh trưởng, một số loại phân bón lá và luôn giữ đủ nước trong ruộng;

4/2/ Giải pháp hóa học ngăn ngừa, diệt trừ bệnh bạc lá lúa

+ Khi bệnh đã phát triển trên ruộng đồng thì chuyện xịt thuốc hoá học thường không có hiệu quả. Tuy vậy, có thể dùng một số thuốc để xịt phòng bệnh như: thuốc có hoạt chất Streptomicin sulfate, Kasugamicin, Gentamicin sulfate, Quaternary Ammonium Salst, Salicylic acid, Fosetyl Aluminium…nhưng phải phun sớm, nhất là trước hoặc ngay sau đợt mưa giông, phối hợp chăm sóc lúa hài hòa, hợp lý để phòng chống và ngăn ngừa bệnh.  

Nguồn: baovethucvathaiphong.vn, vaas.org.vn, giáo trình bệnh cây chuyên khoa

– Xem chủ đề liên quan: Bạc lá lúa, Xanthomonas campestris pv. Oryzae Dowson, Xanthomonas campestris pv. Oryzae Dowson, cây lúa, bệnh bạc lá lúa, bạc lá lúa, bạc lá, dấu hiệu bệnh bạc lá, ngăn ngừa, diệt trừ bệnh bạc lá, biểu hiện lúa bị bạc lá, lúa bị bạc lá, cách chữa bệnh bạc lá lúa, lúa bị bạc lá

Ngoài ra, trong bài viết này, chúng tôi có đề cập đến 1 số loại dinh dưỡng và sâu bệnh, quý bà con có thể dụng các loại thuốc sau để điều trị cho cây trồng:

– Giúp trị bệnh BẠC LÁ : totan 200wp, aliette 800wg, novaba 100wp, norshield 86.2wg, new kasuran 16.6wp, avalon 8wp, siêu vi khuẩn agri-a, gamycinusa 75wp, longbay 20sc, miksabe 100wp,

– Giúp trị bệnh KHÔ ĐẦU LÁ: antracol 70wp,

– Giúp ngăn ngừa NGỘ ĐỘC: siêu phục hồi,

– Giúp trị vi khuẩn VI KHUẨN : avalon 8wp, kasumin 2sl, k.susai 50wp, kufic 80sl, rorai 21wp, dũng sĩ diệt khuẩn, visen 20sc, daone 25wp, yomisuper 22sc, actinovate 1sp,

– Giúp diệt trừ ÚA SỚM: zorvec encantia 330se,

Nhấp vào nút Mua Nhanh bên dưới để đặt mua qua chúng tôi.

LIÊN HỆ MUA HÀNG : 0982.427.033