Những điều cần biết về Cây cao su

<![CDATA[

Cây cao su

Sâu hại gây bệnh trên cây cao su

Bách khoa toàn thư về cây cao su (Rubber tree) Cách trồng và chăm bón cao subón phân cho cây cao su ngăn ngừa, diệt trừ sâu hại gây bệnh cao su kỹ thuật cạo mủ cao su
Tên gọi tiếng anh /Tên khoa học: Rubber tree

Danh pháp hai phần: Hevea brasiliensis

Thuộc bộ ba mảnh vỏ họ thầu dầu, thuộc loại cây lấy nhựa mủ có xuất xứ non trẻ.

Nguồn gốc và lịch sử phát triển cây cao su

Trên toàn cầu

– Năm 1736, Charles Goodyear đã sáng tạo biện pháp “lưu hóa” mủ cao su nâng cao tính năng công dụng của cao su rất rộng lớn.

– Năm 1876, Hemy Wickham-người Anh đã thành công trong việc đưa cao su phát triển ở nhiều vùng trên toàn cầu, nhất là vùng Đông Nam Á. 

– Từ năm 1910 cây cao su phát triển cực kỳ mạnh và nhanh ở nhiều nơi mà trung tâm là châu Á như: Ấn Độ, Inddooneexxia, Malaixia, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc… với diện tích gần 5 triệu hecta, chiếm 92% tổng diện tích cao su và 90% tổng sản lượng cao su của thế giới.

Ở Việt Nam

– Ở nước ta, cây cao su nhập vào trồng giai đoạn đầu ở Phú Nhuận (Gia Định) 1897/ Sau đó được phát truển nhiều ở Miền nam rồi tỏa ra ta Miền bắc. Cây cao su ở nước ta có cực kỳ nhiều triển vọng gia tăng diện tích và gia tăng sản lượng nhất là ở vùng Tây Nguyên…

– Đến năm 2003, diện tích cao su thuộc tổng công ty cao su Việt Nam đạt 219/600 hecta, trong đó 173/700 ha đang được khai thác mủ. Diện tích cao su nay trải rộng từ Đông Miền nam đến Tây Nguyên và Trung bộ, trong điều kiện sinh thái của những khu vực này cực kỳ khác nhau, sinh trưởng và năng suất của cây cao su cũng thay đổi dựa theo điều kiện môi trường.

Đặc tính thực vật học của cây cao su

Cây cao su trồng trong sản xuất đại trà thường là loại cây đã được ghép của các dòng vô tính đã được lựa chọn để đảm bảo tính tương đối và đồng nhất của vườn cây và ổn định năng suất.

Cây cao su

Đặc tính hình thức biểu hiện ra bên ngoài cây cao su

Rễ cây cao su

Có 2 loại, rễ cọc và rễ bàng.

+ Rễ cọc (rễ cái, rễ trụ), bảo đảm cho cây cắm sâu vào trong đất, hỗ trợ cây chống đổ ngả và đồng thời hút nước, muối khoáng từ những lớp đất sâu. Rễ cọc cây cao su phát triển cực kỳ sâu, nhất là khi gặp đất có cấu trúc tốt, sâu trên 10 mét.

Cây cao su

Rễ cọc của cây cao su sau trồng 5, 10 và 15 ngày

Cây cao su

Rễ cọc của cây cao su sau trồng 1 năm, ăn sâu 80 – 100 centimét

+ Rễ bàng (rễ hấp thụ ), đây chính là hệ thống rễ phát triển rất rộng lớn. Đa phần rễ bàng cây cao su tập trung ở lớp đất mặt, cụ thể: 80 – 85% số lượng rễ bàng tập trung ở tầng đất 0 – 30 centimét, còn lại là ở tầng đất 30 – 40 centimét.

Cây cao su

Bộ rễ cây cao su sau trồng 30 năm

Trên đất tốt, khi cây cao su được 3 tuổi, rễ cọc ăn sâu 1,5 mét, rễ bàng ăn rộng 6 – 9 mét.

Lá cây cao su

Lá cao su là loại lá kép gồm 3 lá chét với phiến lá nguyên, mọc cách. Từ lúc còn là thời kỳ mầm đến khi ổn định, sự tạo thành tầng lá cao su gồm 4 thời kỳ như sau:

Cây cao su

Thời kỳ 1: Chồi mầm đang ngủ

Cây cao su

Thời kỳ 2: Chồi mầm phát triển, vươn dài ra thành một đoạn thân, những vảy lá ở chồi phát triển thành lá non, màu tím sậm

Cây cao su

Thời kỳ 3: Lá non màu xanh nhạt, phiến lá mỏng, lá mọc rủ

Cây cao su

Thời kỳ 4: Lá có màu xanh đậm, phiến lá dầy bình thường, đạt kích cỡ cố định, lá xòe ngang ra (tầng lá ổn định)

Hoa cây cao su

Cây cao su từ 5 – 6 tuổi trở lên bắt đầu có hoa, và hằng năm ra bông 1 lần vào lúc cây ra lá non tương đối ổn định, khoảng tháng 2 – 3 dương lịch trong điều kiện thời tiết Việt Nam.

Hoa cao su là hoa đơn tính đồng chu: hoa đực và hoa cái riêng nhưng mọc trên cùng một cây. Ở trên mỗi chùm hoa đều có hoa đực và hoa cái, với tỷ lệ 1 hoa cái và 60 hoa đực. Hoa cao su hình chuông, màu vàng nhạt, hoa cái mọc ở đầu mỗi phát hoa, có kích cỡ lớn hơn, hoa đực thường tụ thành nhóm 3 -7 hoa và có kích cỡ nhỏ hơn.

Cây cao su

Chùm hoa cây cao su

Cây cao su

Hoa cái mọc ở đầu mỗi phát hoa, có kích cỡ lớn hơn hoa đực

Quả và hạt của cây cao su

Quả cao su hình
tròn hơi dẹp có đường kính 3 – 5 centimét, quả nang gồm 3 ngăn, mỗi ngăn có chứa một hạt.

Vỏ của quả lúc còn non có màu xanh chứa đựng nhiều mủ, khi quả già vỏ của quả khô có màu nâu nhạt. Quả chín tự tách vỏ, hạt cao su bắn ra ngoài. Quả cao su tạo thành, phát triển, cho đến lúc quả chín nối dài 19 – 20 tuần.

Hạt cao su hình tròn hơi dài hoặc hình bầu dục. Hạt cao su có hai mặt rõ ràng, mật bụng phẳng, mặt lưng cong lồi lên. Lớp vỏ ngoài hạt láng, có màu nâu đậm hoặc màu vàng đậm và trên có những vân màu đậm hơn. Vỏ hạt cứng, ở đầu hạt có lỗ nảy mầm.

Cây cao su

Quả cao su còn non, có màu xanh

Cây cao su

Quả cao su chín, tách vỏ lộ hạt ra

Cây cao su

Hạt cao su

Thân cây cao su

Thân cây cao su thuộc loại thân gỗ, lớn, cao. Cây lâu năm có thể cao tới 20-30 mét và đường kính thân tới 1 mét.

Hình thù của thân ở cây thực sinh và cây ghép có khác nhau: phần sát gốc ở cây ghép thì bình thường nhưng ở cây thực sinh lại có dạng chân voi.

Khi cây cao su còn non, điểm sinh trưởng và phát triển đỉnh ngọn hoạt động mạnh phát sinh trên thân thành từng tầng lá rõ ràng (năm thứ 1 & 2 sau trồng).

Kết cấu của thân còn có phần đặc biệt là vỏ thân, vì đó là bộ phận sản tạo ra nhựa mủ, ảnh hưởng đến năng suất sản lượng cao su.

Đoạn thân kinh tế của cây cao su là đoạn thân chứa lớp vỏ thân khai thác mủ, tính từ mặt đất đến chảng ba của cành cấp 1, khoảng 2,5 đến 3,0 mét phụ thuộc từng vùng sinh thái khác nhau.

Cây cao su

Đoạn thân kinh tế của cây cao su

Những giai đoạn kiến tạo vườn cao su

Click để xem chi tiết…

– Thời kỳ cây giống trong vườn ươm (gieo hạt – xuất vườn)/ 6-24 tháng: Mỗi tháng 1 tầng lá.

– Thời kỳ kiến thiết cơ bản 1st – 3rd năm tuổi: có thể trồng xen 4th – 7th năm tuổi: giáp tán

– Thời kỳ kinh doanh (khai thác mủ) Giai đoạn khai thác cao su non: 10-12 năm

Giai đoạn khai thác cao su trung niên (12-13 năm): thời gian mà năng suất mủ đạt cao nhất và bình ổn.

Thờ i kỳ khai thác cao su già: năng suất mủ hạ mạnh, không có thể hồi phục.

Những giống cây cao su

Giống cao su PB235

Nguồn gốc: Xuất xứ Malaysia, Phổ hệ PB 5/51 x PB S/78/

Dạng cây: Có cành phụ tự rụng, tạo thân chính thẳng cao, vì vậy cho trữ lượng gỗ lớn.

Sinh trưởng: Khoẻ trong khoảng thời gian Kiến thiết cơ bản, tăng trưởng tương đối trong lúc mở cạo.

Chế độ cạo: 1/2S d/3/Không phù hợp khai thác với cường độ cạo cao và kích thích nhiều, vì dễ bị nhiễm bệnh khô mủ.

Năng suất: Năng suất thay đổi theo điều kiện môi trường và từng năm. Sản lượng cao và sớm ở vùng thuận lợi, đạt trung bình ở vùng bất thuận. Trong 12 năm đầu năng suất bình quân 1,6 tấn/ hecta /năm, sản lượng PB235 tập trung vào các tháng cuối năm.

Những đặc điểm khác: Ít nhiễm một số dạng bệnh, nhưng mẩn cảm với bệnh phấn trắng, chịu gió kém. Khu vực đất có cao trình > 600 m (Tây Nguyên), thời tiết bất thuận, PB235 bị hạ năng suất đáng kể do bị bệnh phấn trắng nặng và liên tục bị gãy cành do gió bão. Cây phục vụ thấp với chất kích thích mủ và dễ bị khô miệng cạo.

Giống cao su PB 255

Nguồn gốc: Xuất xứMalaysia, Phổ hệ PB 5/51 x PB 32/36/ Trồng phổ biến ở những công ty cao su Đông Miền nam trong một vài năm trở lại đây.

Dạng cây: Thân hơi cong khi còn nhỏ. Tán thấp, phân cành rộng. Cành ghép ít mắt và tỷ lệ sống thấp. Vỏ nguyên sinh dầy, trơn, hơi cứng, tái sinh bình thường.

Sinh trưởng: trong khoảng thời gian KTCB cây sinh trưởng trung bình. Tăng trưởng trong khi cạo tương đối.

Chế độ cạo: 1/2S d/3/ Phục vụ kích thích mủ tốt; phù hợp chế độ cạo nhẹ có kích thích.

Năng suất: Năm đầu thấp, tăng vào những sang năm. Năng suất bình quân 2 2,5 tấn/ hecta /năm. Năng suất mủ cực kỳ cao ở vùng thuận lợi và cao hơn nhiều giống khác ở trung bộ.

Những đặc điểm khác: Dễ bị bệnh loét sọc mặt cạo và nấm hồng. Kháng gió tốt, là giống có triển vọng cho nhiều khu vực trồng cây cao su có gió mạnh. Đất kém dinh dưỡng hoặc thiếu chăm bón cây sinh trưởng chậm. Chú ý kỹ thuật cạo vì vỏ dầy và cứng hơn nhiều giống khác.

Giống cao su PB 260

Nguồn gốc: Xuất xứMalaysia, Phổ hệ PB 5/51 x PB 49/Là giống được canh tác đại trà ở đa số những kh
u vực trồng cao su gần đây.

Dạng cây: Thân thẳng, tròn, chân voi rõ, tán hài hòa, cành thấp tự rụng. Vỏ nguyên sinh dầy trung bình, trơn dễ cạo, tái sinh tốt.

Sinh trưởng: Sinh trưởng trong khoảng thời gian KTCB ở Đông Miền nam đạt mức trung bình, tương đối ở Tây Nguyên. Tăng trưởng trong khi cạo tương đối.

Chế độ cạo: 1/2S d/3/ Phù hợp chế độ cạo nhẹ, phục vụ kích thích mủ trung bình, và đừng nên mở miệng cạo sớm khi vỏ còn mỏng.

Năng suất: Ở miền Đông Miền nam, những năm đầu PB 260 có sản lượng thấp hơn PB 235 nhưng có xu hướng tăng cao vào những sang năm. Tại Tây Nguyên, sản lượng cao ngay những năm đầu, vượt nhiều giống khác.

Những đặc điểm khác: Ít nhiễm hoặc nhiễm nhẹ bệnh phấn trắng, dễ bị bệnh loét sọc mặt cạo. Kháng gió tương đối.

Giống cao su RRIM 600

Nguồn gốc: Xuất xứ Malaysia. Phổ hệ: Tj 1 x PB 86/

Dạng cây: Thân thẳng, phân cành lớn tập trung, tán rộng. Vỏ dầy trung bình, dễ cạo. Cạo phạm, vỏ tái sinh dễ bị u lồi.

Sinh trưởng: Sinh trưởng trong khoảng thời gian KTCB đạt mức trung bình. Tăng trưởng khi cạo tương đối

Chế độ cạo: 1/2S d/2/ Phục vụ được với thuốc giúp kích thích vừa phải, có thể chịu đựng được cường độ cạo cao.

Năng suất: Tương đối cao và ổn định ở trên nhiều vùng. Năng suất đạt bình quân từ 1,5 1,6 tấn/ hecta /năm từ năm cạo thứ tư trở đi. Trong 12 năm đầu năng suất bình quân đạt 1,4 tấn/ hecta /năm.

Những đặc điểm khác: RRIM 600 mẩn cảm với bệnh nấm hồng, rụng lá mùa mưa, loét sọc mặt cạo, ít nhiễm phấn trắng. Đây chính là giống cực kỳ triển vọng cho Tây Nguyên và Bắc Miền trung.

Giống cao su RRIV2 (LH 82/156)

Nguồn gốc: Viện NC Cao su Việt Nam, 1982/ Phổ hệ: RRIC 110 x RRIC 117/

Dạng cây: Thân thẳng, tròn. Phân cành trung bình. Cành về sau tự rụng. Tán thấp và rậm khi cây còn tơ; tán cao và thoáng khi trưởng thành. Vỏ cạo dầy trung bình, trơn láng dễ cạo.

Sinh trưởng: Cây sinh trưởng cực kỳ khoẻ trong thời kỳ KTCB; tăng trưởng trong khi cạo tốt.

Chế độ cạo: 1/2S d/3/ Hạn chế dùng chất kích thích mủ.

Năng suất: Sản lượng các năm đầu thấp, tiếp đến tăng dần và vượt PB 235/ Tại Đông Miền nam năng suất năm thứ 3 đạt trên 2 tấn/ hecta ; sản lượng đều qua những tháng trong năm, phục vụ kích thích mủ tương đối.

Những đặc điểm khác: Nhiễm nhẹ những lọai bệnh. Chịu rét kém.

Giống cao su RRIV 3 (LH 82/158)

Nguồn gốc: Viện NC Cao su Việt Nam, 1982/ Phổ hệ: RRIC 110 x RRIC 117/

Dạng cây: Thân thẳng, tròn. Phân cành tập trung, thấp, nhiều cành nhỏ ở thời kỳ non. Cành thấp về sau tự rụng. Tán tròn, rậm. Vỏ cạo dầy trên trung bình, dễ cạo.

Sinh trưởng: Cây sinh trưởng lúc đầu chậm, sau tăng nhanh vượt hơn PB 235; tăng trưởng trong khi cạo tốt.

Chế độ cạo: 1/2S d/3/

Năng suất: Tăng dần theo những năm. Tại Đông Miền nam năng suất năm thứ 3 đạt trên 2 tấn/ hecta ; sản lượng đều qua những tháng trong năm, phục vụ kích thích mủ tương đối.

Những đặc điểm khác: Nhiễm phấn trắng và nấm hồng, ít rụng lá mùa mưa và loét sọc mặt cạo.

Giống cao su RRIV 4 (LH 82/182)

Nguồn gốc: Viện NC Cao su Việt Nam, năm 1982/ Phổ hệ: RRIC 110 x PB 235/ Giống chiếm tỷ lệ cao trong diện tích trồng mới ở khu vực Đông Miền nam.

Dạng cây: Thân thẳng, tròn, vỏ hơi mỏng, dễ cạo.

Sinh trưởng: Cây phát triển nhanh ở những năm đầu, cành gỗ ghép phát triển nhanh, nhiều mắt, ghép dễ sống. Tăng trưởng trong khoảng thời gian cạo kém.

Chế độ cạo: 1/2S d/3/

Năng suất: Là giống cao su cho năng suất cực kỳ cao và gia tăng dần theo những năm. Ở vùng Đông Miền nam, năng suất năm thứ 2 đã đạt 1,8 – 2 tấn/ hecta, những sang năm có thể đạt 3 tấn/ hecta. Năng suất mủ cao hơn hẳn giống PB235 và những dòng RRIV 1,2,3,5/

Những đặc điểm khác: Nhiễm nhẹ những bệnh nấm hồng, loét sọc mặt cạo; dễ nhiễm phấn trắng, héo đen đầu lá. Kháng gió cực kỳ kém, hạn chế trồng ở vùng gió mạnh. Cần lưu ý những giải pháp tạo tán phù hợp.

Giống cao su VM515

Nguồn gốc: Xuất xứ Malaysia. Phổ hệ: chưa xác định.

– Dạng cây: Thân hơi vặn, dáng thẳng, phân cành cao. Vỏ nguyên sinh hơi dày, nhẵn, dễ cạo, tái sinh vỏ tốt.

Sinh trưởng: Tương đối lúc mới trồng, chậm dần lúc mở miệng cạo. Tăng trưởng trong khi cạo kém.

Chế độ cạo: 1/2 S d/3/ Phục vụ được với kích thích.

Năng suất: 1,5 2 tấn/ hecta /năm. Năng suất tương tự hoặc hơn PB235/

Những đặc điểm khác: VM 515 ít nhiễm nấm hồng, loét sọc mặt cạo, nhưng nhiễm những bệnh lá, dễ khô miệng cạo.

Đòi hỏi điều k
iện ngoại cảnh đa phần của cây cao su

Nhiệt độ

Cây cao su đòi hỏi nhiệt độ cao, phù hợp từ 20-280C, có biên độ nhiệt độ chênh lệch ít và sợ rét.

 Theo thành quả nghiên cứu của Trung Quốc: Nếu nhiệt độ bình quân ngày thấp hơn 150C đỉnh ngọn bị ức chế. Nếu dưới 100C thì hạt không nảy mầm, ảnh hưởng không tốt đến trao đổi chất trong cây. Nếu dưới 50C thì vỏ thân bị nứt, mủ không đông, có khả năng bị khô ngọn. Nếu dưới 00C thì cây sẽ chết. Ở nước ta những tỉnh phía Nam trồng cao su là phù hợp hơn cả.

Mưa và độ ẩm

Cây cao su cần nhiều nước, yêu cầu phải có lượng nước mưa mỗi năm cao và đều từ 1/500 – 2/000 milimét. Về tính chất mưa cây cao su đòi hỏi mưa nhiều trận, mưa vào buổi chiều… Nếu mưa lớn hoặc mưa dầm đều không tốt vì khiến cho sâu hại nhiều và ít mủ.

 Về ẩm độ không khí, cây cao su đòi hỏi cao ít nhất từ 75% trở lên.

Gió

Cây cao su ưu lặng gió. Nếu có gió mạnh sẽ khiến cho lượng bốc hơi của lá, trong mủ được tăng lên, cành thân giòn dễ gãy, sản lượng mủ thấp. Tốc độ gió tác động rõ đến đời sống cây cao su: Nếu tốc độ gió 1m/gy không tác động lớn lắm, nhưng từ 2-3 m/gy đã gây nhiều khó khăn trở ngại cho cây cao su, nếu trên 3 m/gy thì cây phát triển không giống thông thường.

Ánh sáng

Cây cao su cần đầy đủ ánh sáng, song vẫn có thể chịu được bong râm, nên theo Xemicop ( Liên Xô) tin rằng cây cao su thuộc loại cây trung tính. Theo thành quả nghiên cứu ở Hoa Nam ( Trung Quốc): Cường độ chiếu sáng phù hợp cho cây cao su là 28/000 lux. Nếu thời gian chiếu sáng khác nhau thì sự phát triển của cây cũng khác nhau.

Đất đai và địa hình

Cây cao su phù hợp với đất rừng, đòi hỏi có lý hóa tính của đất cao. Về hóa tính phải là đất tốt, nhiều mùn giầu N, P, K; có độ PH=5/ Về lý tính đòi hỏi đất tơi xốp, có khả năng thoát nước. Bên cạnh đó cây cao su còn đòi hỏi mực nước ngầm thấp, nơi có độ cao của mặt đất so sánh với mặt biển là 200 m thì tốt.

Là loài cây có lịch sử gắn bó với mảnh đất Việt Nam tương đối lâu, cây cao su phát triển mạnh ở phía Nam và hiện đang được phát triển ra phía Bắc gồm những tỉnh như Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Yên Bái và tới đây chính là Phú Thọ.

Giá trị kinh tế của cây cao su

Cao su là một trong các loại nguyên vật liệu polymer có tính co dãn, chịu ma sát, chịu nén và lâu hỏng nên có rất nhiều ứng dụng như sản xuất vỏ, ruột xe, những chi tiết trong xe ô tô, vật dụng y tế, găng tay, băng tải, dây đai, nệm, giày dép, đồ chơi…Có đến 70% sản lượng cao su được dùng làm vỏ, ruột xe. Do đó, phát triển công nghiệp cao su phụ thuộc cực kỳ nhiều vào tăng trưởng của ngành công nghiệp ô tô.

Vào các năm 1880, công nghiệp ô tô tăng trưởng mạnh khiến nhu cầu cao su tăng mạnh đã thôi thúc những nhà khoa học nghiên cứu chế tạo cao su tổng hợp từ đầu mỏ, nên việc dùng cao su tự nhiên bị thu nhỏ. Trong trong một vài năm trở lại đây, do giá dầu mỏ tăng và công nghiệp xe ô tô phát triển, nâng cao nhu cầu cao su tự nhiên.

Cây cao su

 Tỷ trọng dùng giữa cao su tự nhiên và nhân tạo

Do đó mủ cao su được ví như là “vàng trắng”, từ rất bấy lâu nay việc trồng, khai thác, chế biến những sản phẩm từ mủ cao su đã biến thành một nghề đem lại nguồn thu nhập không hề nhỏ cho nhiều quốc gia trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Cây cao su có tốc độ phát triển cực kỳ nhanh, sau khi tiến hành trồng khoảng từ 5 – 6 năm là có thể cho khai thác mủ. Thông thường thời gian cho khai thác mủ cũng nối dài khoảng trên 20 năm. Sau khi kết thúc chu kỳ khoảng 25 – 30 năm, từ thân đến rễ cây cao su được khai thác sử dụng cho chế biến những sản phẩm gỗ có chất lượng và hiệu quả kinh tế cao.

Cây cao su là loài cây dễ thích ứng, phát triển trên các khu vực đất khó khăn, nghèo kiệt, các khu vực rừng tạp cho kinh tế thấp… Do đó, ngoài những việc tận dụng các diện tích đất cằn, tiến trình trồng, chăm sóc, khai thác đối với các loại cây cao su là một quá trình mang đến nhiều ích lợi cho người dân sống trong khu vực trồng cây, đó là xử lý công ăn việc khiến cho người dân từ việc trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến những sản phẩm từ cây cao su. Có thể thấy các ích lợi rất rõ ràng từ các khu vực trồng cây cao su ở Miền nam, Tây Nguyên, khi mà trước đây nhiều diện tích đồi núi trọc nay đã được phủ bởi một màu xanh bạt ngàn của cây cao su. Cây cao su đã hỗ trợ cho rất nhiều người nông dân trở nên các người công nhân với tư duy sản xuất tân tiến, quy củ với đồng lương ổn định. Đời sống của người dân trong những vùng trồng cây cao su được nâng lên rõ ràng nhờ nhiều hoạt động phục vụ cho sự phát triển của cây cao su. Mủ cao su ngày càng có giá trên thị trường thế giới, ước giá ngày nay đạt khoảng trên 90 triệu đồng/tấn mủ.

Nguồn: tổng hợp

– Tham khảo thêm chủ đề: cây cao sủ, mủ cao su, đặc tính hình thức biểu hiện ra bên ngoài cây cao su, sâu hại gây bệnh trên cây cao su

Ngoài ra, trong bài viết này, chúng tôi có đề cập đến 1 số loại dinh dưỡng và sâu bệnh, quý bà con có thể dụng các loại thuốc sau để điều trị cho cây trồng:

– Giúp trị bệnh HÉO ĐEN ĐẦU: ychatot 900sp, evanton 80sl,

– Giúp trị bệnh KHÔ MIỆNG: bio quét,

– Giúp trị bệnh LOÉT SỌC: bio quét, acrobat mz 90/600wp, phesol manco 72wp, aragibat liên việt, forliet 80wp, mataxyl 500wp, phytocide 50wp, ridomil gold 68wp, vimonyl 72wp,

– Giúp kích tăng luợng MỦ CAO SU : bio quét, agassi 55ec, ammate 150sc, delfin 32wg, diệt sâu chúa, emacao-tp 75wg,

– Giúp kích thích nảy mầm NẢY MẦM: ademon super 22.43sl, dekamon 22.43l, root plex,

– Giúp trị bệnh NẤM HỒNG: tilt super, tisabe, longbay 20sc, thần y trị bệnh, sat, zineb bul, map rota, haohao, super tank, azoxy gold,

– Giúp trị bệnh PHẤN TRẮNG: elcarin, daconil 500sc, picoraz 490ec, longbay 20sc, tisabe, champion 57.6dp, athuoctop 480sc, caligold 20wp, sunshi, thần y trị bệnh,

– Giúp trị bệnh RỤNG LÁ: atonik 1.8sl,

Nhấp vào nút Mua Nhanh bên dưới để đặt mua qua chúng tôi.

LIÊN HỆ MUA HÀNG : 0982.427.033

]]>